TỘI GIẾT NGƯỜI

Nội dung tình huống tham khảo:

Huynh (33 tuổi) vay của chị dâu là Nga 1,9 tỷ đồng để lấy vốn làm ăn. Do làm ăn thua lỗ, hạn cho vay đã hết và chị Nga ráo riết đòi nợ mà Huynh không có tiền trả, Huynh đã dùng dao giết chết chị Nga để không phải trả nợ. Tội giết người mà Huynh đã thực hiện được quy định tại khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự.

Đặt vấn đề tư vấn:

  1. Tội phạm mà Huynh đã thực hiện thuộc loại tội gì theo phân loại tội phạm tại khoản 3 Điều 8 Bộ Luật Hình sự.
  2. Khách thể của tội phạm và đối tượng tác động của tội phạm trong trường hợp này là gì? Hãy giải thích.
  3. Phát biểu sau đây về vụ án này là đúng hay sai? Tại sao? – Nếu toà án tuyên phạt 15 năm tù đối với Huynh thì có nghĩa là tội phạm mà Huynh thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng.
  4. Giả sử Huynh là người có quốc tịch Trung Quốc và vụ án trên xảy ra tại Hải Phòng thì Huynh có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam không? Tại sao?

Ý kiến tư vấn:

  1. Tội phạm mà Huynh đã thực hiện thuộc loại tội gì theo phân loại tội phạm tại khoản 3 Điều 8 Bộ luật Hình sự. 

Muốn biết tội phạm của một người đã thực hiện thuộc loại tội gì, ta phải căn cứ vào việc xác định xem người phạm tội đó thực hiện tội phạm gì, tội phạm đó được phản ánh trong khoản nào, điều nào của Bộ Luật Hình sự, và mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội phạm đó. Cùng với đó là cách phân loại tội phạm theo khoản 3 điều 8 Bộ Luật Hình Sự ta sẽ kết luận được loại tội phạm mà Huynh phạm phải.

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật được quy định trong Bộ luật Hình sự và phải chịu hình phạt. Trên thực tế, những hành vi phạm tội có mức độ nguy hiểm cho xã hội và có tính chất khác nhau. Tội phạm được phân ra thành các nhóm khác nhau, được quy định tại khoản 3 Điều 8 Bộ luật Hình sự: “Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình”.

Do làm ăn thua lỗ, hạn cho vay đã hết và chị Nga ráo riết đòi nợ mà Huynh không có tiền trả, trong tình thế túng quẫn, Huynh đã dùng dao giết chết chị Nga để không phải trả nợ. Hành vi dùng dao giết chết chị Nga của Huynh đã đủ cấu thành tội giết người theo quy định tại điểm q khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự: “Vì động cơ đê hèn”, cụ thể ở đây là để không phải trả khoản nợ mà chị Nga ráo riết đòi. Khung hình phạt cho tội phạm mà Huynh đã thực hiện ở đây là “phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình”. Như vậy mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội phạm mà Huynh đã thực hiện là trên mười lăm năm, tù chung thân hoặc tử hình đúng với quy định tại khoản 3 điều 8 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, có thể đi đến kết luận: hành vi của Huynh nói trên đã cấu thành tội giết người quy định tại điểm q khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình Sự và tội phạm Huynh đã thực hiện thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

  1. Khách thể của tội phạm và đối tượng tác động của tội phạm trong trường hợp này là gì? Hãy giải thích. 
  2. Khách thể của tội phạm

Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại.

Theo luật hình sự Việt Nam, những quan hệ xã hội được coi là khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội đã được xác định trong khoản 1 Điều 8 của Bộ luật Hình sự: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”.

Khoa học luật hình sự Việt Nam phân biệt ba loại khách thể của tội phạm là khách thể chung, khách thể loại và khách thể trực tiếp. Trong đó Khách thể trực tiếp của tội phạm là quan hệ xã hội cụ thể bị loại tội phạm cụ thể trực tiếp xâm hại. Bất kỳ một tội phạm nào đều có khách thể trực tiếp, đó có thể là quan hệ xã hội cụ thể như quan hệ sở hữu hoặc quan hệ nhân thân.

Ở tình huống này, tội phạm mà Huynh đã thực hiện đã xâm hại đến quan hệ nhân thân, cụ thể ở đây là quyền sống của chị Nga, mà nó là một quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, vì vậy khách thể của tội phạm trong trường hợp này là quyền sống của chị Nga.

Huynh đã vay chị dâu là Nga 1,9 tỷ đồng để làm ăn nhưng do làm ăn thua lỗ và hạn cho vay đã hết, vì không muốn trả nợ, Huynh đã cầm dao giết chị Nga. Hành vi cầm dao giết chị Nga nhằm trốn nợ của Huynh đã xâm phạm đến quan hệ nhân thân là quyền sống của chị Nga.

Vậy, Huynh đã xâm phạm nghiêm trọng đến quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Đó là quan hệ nhân thân về sức khỏe, là tính mạng, là quyền sống của con người – quyền thiêng liêng nhất và bất khả xâm phạm của mỗi người.

  1. Đối tượng tác động của tội phạm

Đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận của khách thể của tội phạm, bị hành vi phạm tội tác động đến để gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ.

Đối tượng tác động của tội phạm gồm một số loại: con người; các đối tượng vật chất với ý nghĩa là khách thể của quan hệ xã hội và hoạt động bình thường của chủ thể. Đối với tội giết người thì đối tượng tác động của tội phạm là con người. Trong số những quan hệ xã hội khác nhau thì có những quan hệ xã hội chỉ có thể bị gây thiệt hại khi có sự biến đổi tình trạng bình thường của con người. Trong trường hợp này con người trở thành đối tượng tác động của tội phạm. Quan hệ nhân thân là quan hệ xã hội thuộc loại này. Hành vi dùng dao giết chết chị Nga của Huynh đã làm biến đổi con người chị Nga về mặt sức khỏe, gây thiệt hại; cụ thể là dẫn đến cái chết của chị Nga. Tội phạm giết người là hành vi xâm hại trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự được quy định tại Chương XII của Bộ luật Hình sự. Hành vi giết người của Huynh được quy định cụ thể trong Điều 93 của chương này.

Vì vậy, đối tượng tác động của tội phạm trong trường hợp này là chị Nga.

Luật hình sự Việt Nam bảo vệ các quan hệ xã hội thông qua việc bảo đảm tình trạng bình thường cho các bộ phận cấu thành của các quan hệ xã hội đó. Sự bảo vệ các đối tượng tác động cụ thể luôn luôn có ý nghĩa là bảo vệ các bộ phận của quan hệ xã hội và qua đó để bảo vệ toàn bộ quan hệ xã hội.

  1. Nếu toà án tuyên phạt 15 năm tù đối với Huynh thì có nghĩa là tội phạm mà Huynh thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng là đúng hay sai? Tại sao. 

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong bộ luật Hình sự thì tội phạm được chia làm bốn loại: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Khoản 3 Điều 8 Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 (có sửa đổi, bổ sung năm 2009) có quy định: “Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình”. Ta không thể dựa vào mức án tòa tuyên phạt là

15 năm tù mà khẳng định là Huynh phạm phải tội rất nghiêm trọng.

Đối với tình huống này thì tội phạm mà Huynh đã thực hiện thuộc loại tội giết người theo điểm q khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung ngày 19 tháng 6 năm 2009). Trong trường hợp nếu toà án tuyên phạt 15 năm tù đối với Huynh thì có nghĩa là tội phạm mà Huynh thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng là sai. Vì khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung ngày 19 tháng 6 năm 2009) có quy định: “Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

  1. a) Giết nhiều người;
  2. b) Giết phụ nữ mà biết là có thai;
  3. c) Giết trẻ em;
  4. d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

  1. e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm mợt tội rất nghiêm trọng;
  2. g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;
  3. h) Để lấy bộ phận cơ thể nạn nhân;
  4. i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;
  5. k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;
  6. l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;
  7. m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;
  8. n) Có tính chất côn đồ;
  9. o) Có tổ chức;
  10. p) Tái phạm nguy hiểm;
  11. q) Vì động cơ đê hèn”.

Vậy, mức cao nhất của khung hình phạt dành cho tội này là tù chung thân hoặc tử hình nên tội mà Huynh đã thực hiện thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (theo khoản 3 Điều 8 Bộ luật Hình sự Việt Nam).

Qua đó, ta thấy được khi xét xử một loại tội phạm nào đó, ta phải xem xét kỹ mọi mặt của cấu thành tội phạm một cách chi tiết, từ đó mới đưa ra quyết định đúng đắn nhất về phân loại tội pham.

  1. Giả sử Huynh là người có quốc tịch Trung Quốc và vụ án trên xảy ra tại Hải Phòng thì Huynh có thể phải chịu trách trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam không ? Tại sao ?

Điều 5 Bộ luật Hình sự nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung ngày 19 tháng 6 năm 2009) có quy định:

“1. Bộ luật Hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

  1. Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao”.

Như vậy, mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam trừ một số người nước ngoài phạm tội ở Việt Nam nhưng trách nhiệm hình sự của họ sẽ được giải quyết bằng con đường ngoại giao (khoản 2 điều 5 Bộ luật Hình Sự).

 

Bộ luật Hình Sự không quy định cụ thể các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người nước ngoài phạm tội ở Việt Nam mà căn cứ để xác định việc không truy cứu trách nhiệm hình sự lại là đặc quyền ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo quy định của pháp luật hoặc theo tục lệ quốc tế, dựa trên quan hệ bình đẳng của các nước trong quan hệ quốc tế. Thông thường những người được hưởng đặc quyền ngoại giao là những người đứng đầu Nhà nước, những đại diện ngoại giao, các thành viên của các đoàn ngoại giao như cố vấn, bí thư…; còn theo tục lệ quốc tế thì vợ hoặc chồng, con chưa thành niên của những người này cũng được hưởng quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự. Người có đặc quyền ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự có thể không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật hính sự Việt Nam, nhưng họ có thể vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật của nước mà họ mang quốc tịch, thậm chí họ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam nếu điều ước quốc tế quy định hoặc thông qua con đường ngoại giao, Nhà nước mà họ mang quốc tịch và Nhà nước Việt Nam thỏa thuận sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam. Vì vậy, trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người nước ngoài phạm tội ở Việt Nam là trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự có điều kiện mà điều kiện đó chính là lý do về ngoại giao.

Áp dụng trong tình huống này, ta cần xét 2 trường hợp cụ thể như sau :

  • Trường hợp 1:

Huynh là công dân có quốc tịch Trung Quốc, có hành vi phạm tội giết người (theo khoản 1 Điều 93 Bộ Luật Hình sự) trên lãnh thổ Việt Nam và không thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế. Vậy, theo nguyên tắc lãnh thổ, luật hình sự của mỗi quốc gia có hiệu lực đối với tất cả các tội phạm xảy ra trên lãnh thổ của mình, nên Huynh phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam (theo khoản 1 Điều 5 Bộ luật Hình sự).

  • Trường hợp 2 :

Huynh là công dân có quốc tịch Trung Quốc, có hành vi phạm tội giết người (theo khoản 1 Điều 93 Bộ Luật Hình sự) trên lãnh thổ Việt Nam nhưng Huynh thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế thì vấn đề trách nhiệm hình sự của Huynh sẽ được giải quyết bằng con đường ngoại giao (khoản 2 Điều 5 Bộ luật Hình sự).

Huynh có thể không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam, nhưng có thể vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật Trung Quốc. Tuy nhiên, Huynh vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam nếu điều ước quốc tế quy định hoặc thông qua con đường ngoại giao Nhà nước Trung Quốc và Nhà nước Việt Nam thỏa thuận sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam.

Bạn đang tham khảo bài viết của Công ty Luật Gia Thái. Nếu có bất cứ thắc mắc cần được hỗ trợ giải đáp, tư vấn pháp luật trực tuyến từ các Luật sư, vui lòng liên hệ ngay với chúng tôi qua Hotline: 0983.232.416 để được tư vấn một cách chính xác nhất!

Hy vọng rằng bài viết tham khảo của Công ty sẽ giúp bạn có cách nhìn phù hợp và lựa chọn được phương án thích hợp để giải quyết những vướng mắc của bạn. Nội dung bài viết trên chỉ được coi là tài liệu tham khảo. Rất mong Quý khách hàng, người truy cập tuyệt đối không được coi là ý kiến pháp lý chính thức cuối cùng của Luật sư.

   CÔNG TY LUẬT GIA THÁI

NIỀM TIN VÀ UY TÍN

Trụ sở chính: Số 1/377 đường Giải Phóng, phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân, Hà Nội

Website Công ty – hỏi đáp pháp luật miễn phí tại: https://luatgiathai.com

Chịu trách nhiệm: Luật sư – Luật sư Vũ Thị Thảo – Giám đốc điều hành Giấy phép số: 01021029 /TP/ĐKHĐ Sở Tư pháp TP Hà Nội cấp.

                 LUẬT GIA THÁI – LUẬT SƯ CHO MỌI NHÀ!

TUYÊN BỐ QUYỀN SỞ HỮU ĐỐI VỚI CÁC NỘI DUNG TRÊN WEBSITE:

Webiste https://luatgiathai.com thuộc sở hữu và được hoạt động dưới sự quản lý của Công ty Luật TNHH Gia Thái. Webiste có dẫn chiếu nhiều email hỏi đáp, tư vấn pháp lý cá nhân kèm nhiều thông tin cá nhân của khách hàng. Vì vậy, vui lòng không phát hành lại, tái bản thông tin trên website dưới mọi hình thức nếu chưa có được sự đồng ý của Luật Gia Thái bằng văn bản!

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *