TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN

TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN (ĐIỀU 135)

Cưỡng đoạt tài sản thuộc các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 135 Bộ luật hình sự

  1. Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên

Trường hợp phạm tội này cũng tương tự như trường hợp phạm tội quy định tại điểm d khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 135 Bộ luật hình sự, chỉ khác ở chỗ tài sản bị chiếm đoạt ở mức từ năm trăm triệu đồng trở lên. Đây là giá trị tài sản bị chiếm đoạt đặc biệt lớn và cũng như trường hợp phạm tội quy định tại điểm d khoản 2 và điểm a khoản 3  Điều 135 Bộ luật hình sự, chỉ cần xác định người phạm tội có ý định chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên chứ không nhất thiết phải xác định người phạm tội đã chiếm đoạt được hay chưa.

  1. Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

Trương hợp phạm tội này cũng tương tự như trường hợp phạm tội quy định tại điểm đ khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 135 Bộ luật hình sự, chỉ khác ở chỗ hậu quả mà người phạm tội gây ra trong trường hợp này là hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên hậu quả đặc biệt nghiêm trọng do hành vi cưỡng đoạt tài sản gây ra cũng phải tương đương với các tình tiết định khung quy định tại khoản 4 Điều 135 Bộ luật hình sự vì nó cũng là một tình tiết định khung hình phạt được quy định trong một khung. Căn cứ vào các quy định tại Điều 135 Bộ luật hình sự, qua thực tiễn xét xử có, thể coi những thiệt hại sau đây là hậu quả đặc biệt nghiêm trọng do hành vi phạm tội cưỡng đoạt tài sản gây ra:

– Gây tổn hại cho sức khoẻ của một người với tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm chết người;

– Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tỷ lệ thương tật của mỗi người chưa đến 61% nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người đó cộng lại từ 61% trở lên;

– Gây tổn hại cho sức khoẻ của một người với tỷ lệ thương tật dưới 61% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị dưới 500.000.000 đồng;

– Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 500.000.000 đồng trở lên, nhưng không phải là tài sản bị chiếm đoạt;

– Ngoài những thiệt hại về về tính mạng, sức khoẻ hoặc tài sản có thể xác định được như đã nêu trên, còn những thiệt hại phi vật chất cũng cần được xác định để đánh giá hậu quả do hành vi cưỡng đoạt tài sản gây ra, như ảnh hưởng đặc biệt xấu đến việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; gây ảnh hưởng đặc biệt xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội; gây hoang mang cho rất nhiều người trên một địa bàn nhất định, làm cho rất nhiều người vì quá sợ hãi nên phải bỏ học, bỏ việc làm, không dám lao động sản xuất, không dám buôn bán.v.v… Những thiệt hại phi vật chất, đòi hỏi cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải căn cứ vào từng vụ án cụ thể, trong một hoàn cảnh cụ thể, xảy ra ở một địa bàn cụ thể, mới có thể xác định được chính xác.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 135 Bộ luật hình sự thì người phạm tội sẽ bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Khi quyết định hình phạt, cần chú ý:

Nếu người phạm tội có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có tình tiết tăng nặng nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, người phạm tội có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, không phải là người tổ chức, đáng được khoan hồng, thì Toà án có thể áp dụng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt (dưới mười hai năm năm tù) nhưng không được dưới bảy năm tù.

Nếu các tình tiết khác của vụ án như nhau, thì:

– Người phạm tội thuộc cả hai trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 135 sẽ bị phạt nặng hơn người phạm tội chỉ thuộc một trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 135 Bộ luật hình sự;

– Người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự sẽ được áp dụng hình phạt thấp hơn người phạm tội không có hoặc có ít tình tiết giảm nhẹ;

– Người phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự sẽ bị áp dụng hình phạt nặng hơn người phạm tội không có hoặc có ít tình tiết tăng nặng;

– Thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tinh thần càng lớn, hình phạt càng nặng và ngược lại;

 – Người phạm tội bồi thường được càng nhiều tài sản bị chiếm đoạt thì mức hình phạt càng được giảm so với người phạm tội chưa bồi thường hoặc chỉ bồi thường không

Bạn đang tham khảo bài viết của Công ty Luật Gia Thái. Nếu có bất cứ thắc mắc cần được hỗ trợ giải đáp, tư vấn pháp luật trực tuyến từ các Luật sư, vui lòng liên hệ ngay với chúng tôi qua Hotline: 0983.232.416 để được tư vấn một cách chính xác nhất!

Hy vọng rằng bài viết tham khảo của Công ty sẽ giúp bạn có cách nhìn phù hợp và lựa chọn được phương án thích hợp để giải quyết những vướng mắc của bạn. Nội dung bài viết trên chỉ được coi là tài liệu tham khảo. Rất mong Quý khách hàng, người truy cập tuyệt đối không được coi là ý kiến pháp lý chính thức cuối cùng của Luật sư.

CÔNG TY LUẬT GIA THÁI

NIỀM TIN VÀ UY TÍN

Trụ sở chính: Số 1/377 đường Giải Phóng, phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân, Hà Nội

Website Công ty – hỏi đáp pháp luật miễn phí tại: https://luatgiathai.com

Chịu trách nhiệm: Luật sư – Luật sư Vũ Thị Thảo – Giám đốc điều hành Giấy phép số: 01021029 /TP/ĐKHĐ Sở Tư pháp TP Hà Nội cấp.

LUẬT GIA THÁI – LUẬT SƯ CHO MỌI NHÀ!

TUYÊN BỐ QUYỀN SỞ HỮU ĐỐI VỚI CÁC NỘI DUNG TRÊN WEBSITE:

Webiste https://luatgiathai.com thuộc sở hữu và được hoạt động dưới sự quản lý của Công ty Luật TNHH Gia Thái. Webiste có dẫn chiếu nhiều email hỏi đáp, tư vấn pháp lý cá nhân kèm nhiều thông tin cá nhân của khách hàng. Vì vậy, vui lòng không phát hành lại, tái bản thông tin trên website dưới mọi hình thức nếu chưa có được sự đồng ý của Luật Gia Thái bằng văn bản!

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *