Tội giết người Tại khoản 1 Điều 93

  • Tội giết người Tại khoản 1 Điều 93

Khoản 1 Điều 93 – BLHS quy định: “Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình”

Phân tích:

  1. Khách thể của tội phạm:

Tội giết người xâm phạm trực tiếp vào quyền được sống của giết người.

Quyền được sống của mỗi con người là một trong những quyền cơ bản của con người bắt đầu từ thời điểm lọt lòng người mẹ và đến khi được sinh ra trên trái đất.

Cuộc sống của mỗi con người bắt đầu từ thời điểm lọt lòng mẹ và đến khi tắt thở, tim ngừng đập theo quy luật của cuộc sống tự nhiên. Cần phân biệt ở đây là cơ thể sống vẫn đang phụ thuộc (bào thai trong bụng người phụ nữ chưa đến ngày sinh) cơ thể sống độc lập có thể là một cơ thể có khả năng trực tiếp nhận các điều kiện sống từ môi trường cho dù khả năng tiếp nhận hạn chế (người ốm, mắc bệnh hiểm nghèo, đã chết một số bộ phận nhưng chưa ngừng hoạt động toàn bộ mọi bộ phận trong cơ thể).

Đối tượng tác động của tội giết người là thân thể con người đang sống một cách bình thường.

  1. Mặt khách quan của tội phạm:

Giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng người khác một cách trái pháp luật

Mọi hành vi tước đoạt sinh mạng người khác đều trái pháp luật trừ trường hợp thi hành án tử hình theo điều 229. Bộ luật tố tụng hình sự hoặc phòng vệ chính đáng theo Điều 15 – BLHS. Pháp luật nước ta chưa thừa nhận việc thực hiện cái chết nhân đạo vì vậy hành vi tước đoạt sinh mạng của người khác ngay cả khi có sự đồng ý của nạn nhân và người thân thích của họ vẫn phạm tội giết người.

Ví dụ: Bác sĩ giúp bệnh nhân chết nhanh hơn để tránh sự đau đớn kéo dài khi họ biết là ung thư ác tính, không thể cứu chữa, bằng cách tắt bình thở oxy…. mặc dù có sự đồng ý của bệnh nhân thì trong trường hợp này người bác sỹ vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người. Tuy nhiên khi xét xử sẽ được xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Tội giết người được thể hiện hành vi tước đoạt tính mạng người khác một cách trái pháp luật, vậy tước đoạt dính mạng người khác tức là không phải tự tước đoạt tính mạng của chính mình. Nếu có hành vi tự tước đoạt tính mạng của mình thì hành vi đó không cấu thành tội phạm mà gọi là hành vi tự sát (tự tử).

Hành vi phạm tội có thể được thực hiện bằng hành động, tức là dùng sức mạnh vật chất hoặc bằng các thủ đoạn khác tác động nên thân thể nạn nhân, gây nên cái chết cho nạn nhân. Hành gi giết người thường kèm theo sự hỗ trợ của công cụ phương tiện như dao, súng, thuốc độc….

Hành vi tước đoạt cũng có thể được thực hiện bằng phương pháp không hành động, tức là người phạm tội đã không làm một việc theo trách nhiệm, nghĩa vụ họ phải làm nhằm tức đoạt tính mạng người khác.

Ví dụ; Không cho người khác ăn uống để người khác chết đói, chết khát mặc dù kẻ phạm tội này có nghĩa vụ phải cho ăn, uống như cha mẹ đối với con cái, y tá, hộ lý đối với bệnh nhân….

Trường hợp kẻ phạm tội tưởng nhầm xác chết là người đang còn sống mà có hành vi đâm, chém, bắn…. với ý thức giết thì vẫn phạm tội giết người. Khoa học luật hình sự gọi đó là sai lầm về khách thể

Thời điểm hoàn thành của tội phạm được tính từ khi xảy ra hậu quả chết người. Nếu chưa gây ra hậu quả chết người thì tùy trường hợp cụ thể mà người thực hiện hành vi có thể phạm tội giết người ở các giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt hay tội phạm hoàn thành. Tội giết người có cấu thành tội phạm vật chất.

Khi xem xét hành vi giết người với hậu quả chết người xảy ra cần xác định mối quan hệ nhân quả giả hành vi và hậu quả. Tức là hành vi là nguyên nhân gây ra chết người phải xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian và có mối quan hệ nội tại, tất yếu đối với hậu quả, thể hiện ở chỗ: Cái chết của nạn nhân có cơ sở ngay trong hành vi của kẻ phạm tội: hành vi của kẻ phạm tội đã mang những thuộc tính làm sản sinh ra hậu quả chết người: hành vi của kẻ phạm tội trong những điều kiện nhất định sẽ gây ra hậu quả chết người chứ không thể khác được

Ví dụ: Một người dùng súng bắn vào đầu người khác, tất yếu sẽ gây ra cái chết cho người này.

Nếu hậu quả chết người do nhiều nguyên nhân thì phải xác định nguyên nhân nào là nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân nào là nguyên nhân thứ yếu. Ngoài ra còn phải xét cả đến nguyên nhân nào là nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp. Thông thường hành vi là nguyên nhân trực tiếp mới phải chịu trách nhiệm về hậu quả, còn hành vi là nguyên nhân giám tiếp không phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả.

Ví dụ: A cho B mượn súng đi săn, B dùng dúng đó bắn chết người thì A không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người.

Tại khoản 1 Điều 93 – BLHS quy định một số dấu hiệu hành vi của mặt khách quan phản ánh mức độ tăng lên tính chất nguy hiểm của các trường hợp phạm tội (cấu thành tăng nặng).

  1. Mặt chủ quan của tội phạm

Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý. Đa số tội phạm giết người thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, có một số trường hợp do lỗi cố ý gián tiếp tương đối phức tạp, dễ nhầm lẵn với hình thức lỗi, vô ý do quá tự tin. Cho nên, khi xác định hình thức lỗi này cần gắn liền với việc xem xét động cơ mục đích của tội phạm.

  1. Chủ thể của tội phạm

Tội phạm giết người thực hiện bởi bất kỳ người nào đủ năng trách nhiệm hình sự và đạt từ 14 tuổi trở lên.

  1. Hình phạt

Trong khoản 2 (cấu thành cơ bản) quy định hình phạt tù từ 7 năm đến 15 năm.

Trong khoản 1 (cấu thành tăng nặng) quy định hình phạt từ từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình giết người có một trong các tình tiết quy định từ điểm a đến điểm q của khoản 1 điều luật.

Ngoài ra, người phạm tội có thể bị áp dụng các hình phạt bổ sung, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 1 năm đến 5 năm

Bạn đang tham khảo bài viết của Công ty Luật Gia Thái. Nếu có bất cứ thắc mắc cần được hỗ trợ giải đáp, tư vấn pháp luật trực tuyến từ các Luật sư, vui lòng liên hệ ngay với chúng tôi qua Hotline: 0983.232.416 để được tư vấn một cách chính xác nhất!

CÔNG TY LUẬT GIA THÁI

NIỀM TIN VÀ UY TÍN

Trụ sở chính: Số 1/377 đường Giải Phóng, phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân, Hà Nội

Website Công ty – hỏi đáp pháp luật miễn phí tại: https://luatgiathai.com

Chịu trách nhiệm: Luật sư – Luật sư Vũ Thị Thảo – Giám đốc điều hành Giấy phép số: 01021029 /TP/ĐKHĐ Sở Tư pháp TP Hà Nội cấp

Hy vọng rằng bài viết tham khảo của Công ty sẽ giúp bạn có cách nhìn phù hợp và lựa chọn được phương án thích hợp để giải quyết những vướng mắc của bạn. Nội dung bài viết trên chỉ được coi là tài liệu tham khảo. Rất mong Quý khách hàng, người truy cập tuyệt đối không được coi là ý kiến pháp lý chính thức cuối cùng của Luật sư.

LUẬT GIA THÁI – LUẬT SƯ CHO MỌI NHÀ!

TUYÊN BỐ QUYỀN SỞ HỮU ĐỐI VỚI CÁC NỘI DUNG TRÊN WEBSITE:

Webiste https://luatgiathai.com thuộc sở hữu và được hoạt động dưới sự quản lý của Công ty Luật TNHH Gia Thái. Webiste có dẫn chiếu nhiều email hỏi đáp, tư vấn pháp lý cá nhân kèm nhiều thông tin cá nhân của khách hàng. Vì vậy, vui lòng không phát hành lại, tái bản thông tin trên website dưới mọi hình thức nếu chưa có được sự đồng ý của Luật Gia Thái bằng văn bản!

 

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *