Thủ tục Tố tụng hình sự

Thủ tục Tố tụng hình sự

Bộ luật tố tụng hình sự bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

Việc xử lý những hành vi vi phạm pháp luật hình sự sẽ được thực hiện theo quy định của Pháp luật tố tụng hình sự.

Bộ luật tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục khởi tố – điều tra – truy tố – xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, của các cơ quan, tổ chức và công dân; hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.

Trong đó:

Cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án.

Người tiến hành tố tụng bao gồm: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên; Chánh án, Phó Chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng được quy định cụ thể trong bộ luật tố tụng hình sự (Điều 34- Điều 41).

Người tham gia tố tụng bao gồm: Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo, Người bị hại, Nguyên đơn dân sự, Bị đơn dân sự, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, Người làm chứng, Người bào chữa, Người giám định, Người phiên dịch, Người bảo vệ quyền và lợi ích cho đương sự.

Các giai đoạn của quá trình tố tụng bao gồm: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.

  1. Giai đoạn khởi tố: Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu của tố tụng hình sự, trong đó các cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự. Giai đoạn này được bắt đầu từ khi các cơ quan có thẩm quyền nhận được tin báo hoặc tố giác về tội phạm và kết thúc khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.

– Khởi tố vụ án hình sự: Khi xác định có dấu hiệu của tội phạm (Tố giác và tin báo về tội phạm; Người phạm tội tự thú), Cơ quan điều tra phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát phải gửi quyết định đó đến Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra; quyết định khởi tố kèm theo tài liệu liên quan đến việc khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra phải được gửi tới Viện kiểm sát để kiểm sát việc khởi tố.

– Điều tra vụ án hình sự:  Trong giai đoạn này các cơ quan điều tra áp dụng mọi biện pháp do luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội làm cơ sở cho việc xét xử của Tòa án. Nhiệm vụ của giai đoạn điều tra là: xác định tội phạm và người thực hiện tội phạm; xác định thiệt hại do tội phạm gây ra; xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp khắc phục và ngăn ngừa. Thẩm quyền điều tra vụ án hình sự thuộc các Cơ quan điều tra. Các cơ quan hải quan, Kiểm lâm, Đơn vị Bộ đội biên phòng được thực hiện một số các hoạt động điều tra.

Khi kết thúc điều tra cơ quan điều tra làm bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố nếu có đủ chứng cứ, hoặc đình chỉ điều tra nếu có một trong các căn cứ quy định tại Điều 89 Bộ luật tố tụng hình sự hay đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can là người thực hiện tội phạm.

– Khởi tố bị can: Sau khi có đủ căn cứ để xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định khởi tố và tài liệu liên quan đến việc khởi tố bị can đó cho Viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn việc khởi tố. Trong thời hạn 3 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can và gửi ngay cho Cơ quan điều tra.

  1. Giai đoạn truy tố:

Trong thời hạn 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát phải ra một trong những quyết định sau: Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng; Trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung;Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án. Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn, nhưng không quá 10 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng; không quá 15 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng; không quá 30 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

  1. Giai đoạn xét xử:

Trong trường hợp truy tố thì trong thời hạn 3 ngày, kể từ ngày ra quyết định truy tố bằng bản cáo trạng, Viện kiểm sát phải gửi hồ sơ và bản cáo trạng đến Tòa án.

Đối với những vụ án Viện kiểm sát truy tố bị can trước Tòa án bằng Bản cáo trạng, Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án được xác định như sau:

 Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quận sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm sau đây :

+ Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;

+ Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;

+ Các tội quy định tại các điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219, 221, 222, 223, 224, 225, 226, 263, 293, 294, 295, 296, 322 và 323 của Bộ luật hình sự.

– Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp dưới mà mình lấy lên để xét xử.

Bộ luật tố tụng hình sự quy định chế độ hai cấp xét xử:

–  Xét xử sơ thẩm:

Chuẩn bị xét xử: Trong thời hạn 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 2 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, 3 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công chủ toạn phiên tòa phải ra một trong những quyết định sau đây: Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung; Quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà; trong trường hợp có lý do chính đáng thì Toà án có thể mở phiên toà trong thời hạn 30 ngày. Đối với vụ án được trả lại để điều tra bổ sung thì trong thời hạn 15 ngày sau khi nhận lại hồ sơ, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.

+  Giai đoạn xét xử sơ thẩm được bắt đầu từ khi Tòa án nhận được hồ sơ vụ án do Viện kiểm sát chuyển sang. Trình tự xét xử tại phiên tòa bao gồm:

  •     THỦ TỤC BẮT ĐẦU PHIÊN TÒA;
  •     THỦ TỤC XÉT HỎI TẠI PHIÊN TÒA;
  •     THỦ TỤC TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TÒA;
  •     THỦ TỤC NGHỊ ÁN VÀ TUYÊN ÁN.

Quá trình xét xử được thực hiện theo nguyên tắc xét xử trực tiếp bằng lời nói và liên tục, chỉ xét xử những bị cáo, những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã có quyết định đưa ra xét xử. Khi kết thúc, Hội đồng xét xử ra bản án hoặc các quyết định.

Đối với bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm.

–  Xét xử phúc thẩm: Phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại những bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo kháng nghị.

Quyền kháng cáo thuộc về bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án.  Thời hạn kháng cáo là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Quyền kháng nghị thuộc về Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và cấp trên của Tòa án sơ thẩm. Thời hạn kháng nghịcủa Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Thời hạn xét xử phúc thẩm: Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu phải mở phiên toà phúc thẩm trong thời hạn 60 ngày; Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án quân sự trung ương phải mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án.

Chậm nhất là 15 ngày trước ngày mở phiên toà, Toà án cấp phúc thẩm phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người tham gia tố tụng về thời gian, địa điểm xét xử phúc thẩm vụ án.

Thủ tục xét xử phúc thẩm: Phiên tòa phúc thẩm cũng tiến hành như phiên tòa sơ thẩm nhưng trước khi xét hỏi, một thành viên của Hội đồng xét xử phải trình bày tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung của kháng cáo hoặc kháng nghị. Khi tranh luận, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.

Khi xét xử Hội đồng xét xử chỉ xử lại những phần bị kháng cáo, kháng nghị trong bản án của tòa sơ thẩm, nhưng trên cơ sở xem xét toàn bộ vụ án. Tòa phúc thẩm có thể ra một trong các quyết định sau: bác kháng cáo, kháng nghị Giữ nguyên bản án sơ thẩm, Sửa án sơ thẩm; Hủy án sơ thẩm để điều tra hoặc xét xử lại; Hủy án sơ thẩm và Đình chỉ vụ án.

  1. Thi hành bản án, quyết định của Tòa ánLà giai đoạn hoạt động tố tụng của các Cơ quan công an, Kiểm sát, Tòa án, Các cơ quan nhà nước khác và Tổ chức xã hội được nhà nước trao quyền nhẳm bảo đảm cho bản án và quyết định có hiệu lực của Tòa án được thi hành một cách chính xác, kịp thời.

Chỉ có những bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mới được đưa ra thi hành, trừ trường hợp bản án tuyên một người là không phạm tội hoặc tuyên một hình phạt bằng hoặc thấp hơn thời hạn họ bị tạm giam. Việc thi hành các loại hình phạt phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Trong quá trình cải tạo, để động viên giáo dục người phạm tội luật tố tụng hình sự quy định việc giảm thời hạn và miễn chấp hành hình phạt đối với họ.

–  Xét lại các bản án và quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm: Để bảo đảm tính khách quan trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, trong trường hợp các bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện ra sai lầm về pháp luật thì được xử lại theo trình tự giám đốc thẩmphát hiện ra các tình tiết mới làm thay đổi tính chất của vụ án thì được xét xử lại theo trình tự tái thẩm.

 

Bạn đang tham khảo bài viết của Công ty Luật Gia Thái. Nếu có bất cứ thắc mắc cần được hỗ trợ giải đáp, tư vấn pháp luật trực tuyến từ các Luật sư, vui lòng liên hệ ngay với chúng tôi qua Hotline: 0983.232.416 để được tư vấn một cách chính xác nhất!

CÔNG TY LUẬT GIA THÁI

NIỀM TIN VÀ UY TÍN

Trụ sở chính: Số 1/377 đường Giải Phóng, phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân, Hà Nội

Website Công ty – hỏi đáp pháp luật miễn phí tại: https://luatgiathai.com

Chịu trách nhiệm: Luật sư – Luật sư Vũ Thị Thảo – Giám đốc điều hành Giấy phép số: 01021029 /TP/ĐKHĐ Sở Tư pháp TP Hà Nội cấp

Hy vọng rằng bài viết tham khảo của Công ty sẽ giúp bạn có cách nhìn phù hợp và lựa chọn được phương án thích hợp để giải quyết những vướng mắc của bạn. Nội dung bài viết trên chỉ được coi là tài liệu tham khảo. Rất mong Quý khách hàng, người truy cập tuyệt đối không được coi là ý kiến pháp lý chính thức cuối cùng của Luật sư.

LUẬT GIA THÁI – LUẬT SƯ CHO MỌI NHÀ!

TUYÊN BỐ QUYỀN SỞ HỮU ĐỐI VỚI CÁC NỘI DUNG TRÊN WEBSITE:

Webiste https://luatgiathai.com thuộc sở hữu và được hoạt động dưới sự quản lý của Công ty Luật TNHH Gia Thái. Webiste có dẫn chiếu nhiều email hỏi đáp, tư vấn pháp lý cá nhân kèm nhiều thông tin cá nhân của khách hàng. Vì vậy, vui lòng không phát hành lại, tái bản thông tin trên website dưới mọi hình thức nếu chưa có được sự đồng ý của Luật Gia Thái bằng văn bản!

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *