PHÂN TÍCH TỪNG TỘI DANH THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ

PHÂN TÍCH TỪNG TỘI DANH THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ

(Các tội xâm phạm đến tính mạng con Người)

  • Tội Giết người

Khái niệm:

Hành vi giết người là một hành vi vi phạm pháp luật đặc biệt nghiêm trọng  xâm phạm trực tiếp đến tính mạng người khác bị xã hội kịch liệt lên án.

Các yếu tố cấu thành tội giết người

  1.  Mặt khách quan

Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau đây:

  1. a) Có hành vi làm chết người khác: Được thể hiện qua hành vi dùng mọi thủ đoạn nhằm làm cho người khác chấm dứt cuộc sống.

Tuy nhiên cần phân biệt:

– Nếu làm chết chính bản thân mình thì bị coi là tự tử hoặc tự sát chứ không cấu thành tội này.

– Nếu vì vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng mà làm chết người khác thì cấu thành tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

–  Hành vi làm chết người được thực hiện thông qua các hình thức sau:

+ Hành động: Thể hiện qua việc người phạm tội đã chủ động thực hiện các hành vi mà pháp luật không cho phép như: dùng dao đâm,dùng súng bắn, dùng cây đánh … nhằm giết người khác.

+ Không hành động: Thể hiện qua việc người phạm tội đã không thực hiện nghĩa vụ phải làm ( phải hành động) để đảm bảo sự an toàn tính mạng của người khác … nhằm giết người khác. Thông thường tội phạm được thực hiện trong trường hợp (bằng cách) lợi dụng nghề nghiệp

–  Có hoặc không sử dụng vũ khí, hung khí khác, cụ thể là:

+ Không sử dụng vũ khĩ hoặc hung khí: Trường hợp này người phạm tội chủ yếu sử dụng sức mạnh cơ thể của mình tác động lên cơ thể của nạn nhân hoặc đẩy nạn nhân vào điều kiện không thể sống được như đấm, đá, bóp cổ… hoặc dùng các thủ đoạn khác như đẩy xuống sông …

+ Có sử dụng vũ khí, hung khí hoặc các tác nhân gây chết người khác. Trường hợp này người phạm tội có sử dụng các công cụ phạm tội như: Súng, lựu đạn, bom, mìn, dao, búa, gậy gộc, … hoặc các tác nhân gây chết khác như thuốc độc, điện …

–  Hành vi giết người được thể hiện dưới hình thức dùng vũ lực hoặc không dùng vũ lực, cụ thể là:

+ Dùng vũ lực: Được hiểu là trường hợp người phạm tội đã sử dụng sức mạnh vật chất (có hoặc không có công cụ, phương tiện phạm tội ) tác động lên thân thể nạn nhân.

Việc dùng vũ lực có thể được thể hiện bằng các hình thức sau:

Thực hiện trực tiếp như dùng tay, chân để đánh đá, bóp cổ, …

Thực hiện gián tiếp thông qua phương tiện vật chất (có công cụ, phương tiện phạm tội) như: Dùng dao để đâm, chém, dùng súng bắn, …

+ Không dùng vũ lực: Nghĩa là dùng các thủ đoạn khác mà không sử dụng sức mạnh vật chất để tác động lên cơ thể nạn nhân như: Dùng thuốc độc để đầu độc nạn nhân, gài bẫy điện để nạn nhân vướng vào…

  1. b) Về hậu quả: Các hành vi nêu trên thông thường gây hậu quả trực tiếp là làm người khác chết (tức là chấm dứt sự sống của người khác). Tuy nhiên chỉ cần hành vi mà người phạm tội đã thực hiện có mục đích làm chấm dứt sự sống của người khác (hay làm cho người khác chết) thì được coi là cấu thành tội giết người cho dù hậu quả chết người có xảy ra hay không.

Tuy nhiên một số truờng hợp việc dùng vũ lực không gây ra hậu quả trực tiếp làm nạn nhân chết mà chỉ có tác dụng đẩy nạn nhân vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng và tử vong (như xổ nạn nhân xuống sông và bỏ mặc cho đến chết hoặc đạp nạn nhân ra ngoài đường đang có nhiều xe oto chạy dẫn đến bị xe cán chết …) theo chúng tôi vẫn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người nếu chứng minh được người thực hiện hành vi đó có mục đích giết người. Đây có thể xem là hậu qua gián tiếp.

  1.  Khách thể 

Hành vi nêu trên đã xâm phạm đến tính mạng của người khác (quyền được bảo vệ về tính mạng)

Khách thể của tội giết người là quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người (đang sống). Ghi chú: Thai nhi không được xem là một con người đang sống cho đến khi được sinh ra và còn sống. Cho nên việc “giết” một bào thai không được xem là hành vi giết người mà chỉ được xem là hành vi cố ý gây thương tích hoặc là tình tiết tăng nặng trong trường hợp giết người là phụ nữ mà biết là ngươi đó đang mang thai.

  1.  Mặt chủ quan

Người phạm tội đã thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý (được thể hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp).

Lưu ý:

Mặc dù giết người không phải là dấu hiệu cấu thành bắt buộc nhưng trong một số trường hợp vẫn được xem xét như một dấu hiệu bắt buộc của mặt chủ quan để làm căn cứ phân biệt với một số trường hợp sau:

–   Gây thương tích dẫn đến giết người. Trong trường hợp này người phạm tội không có mục đích giết người.

–   Nạn nhân bị tấn công bằng các hoá chất có độc tính mạnh (như axit, thuốc chuột) hoặc bằng các hung khí nguy hiểm (như dao nhọn, lưỡi lê, …) vào các vị trí hiểm yếu trên cơ thể nhưng chỉ bị thương tích hoặc bị tổn hại sức khoẻ (không chết) hoặc không bị thương tích, trường hợp này cần xác định mục đích tấn công là gì , nếu có mục đích nhằm giết người khác thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người nhưng thuộc trường hợp phạm tôi chưa đạt. Tuy nhiên nếu không có mục đích giết người thì họ chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tôi cố ý gây thương tích (nếu có).

–  Nạn nhân bị vướng bẫy điện dẫn đến tử vong. Trường hợp này cần phân biệt là: nếu dùng bẫy điện với mục đích để chống trộm (tức đối tượng bị tác động được nhắm tới là con người) thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người; nếu dùng bẫy điện với mục đích là để diệt chuột (tức là đối tượng bị tác động nhắm tới không phải là con người thì không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người mà có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vô ý làm chết người.

  1. Chủ thể

Chủ thể này bất kỳ là người nào có năng lực trách nhiệm hình sự

Chủ thể của tội giết người là chủ thể thường, nghĩa là những người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định đều có khả năng trở thành chủ thể của tội giết người. Theo quy định của Bộ luật hình sự, thì người từ đủ 14 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng. Từ 16 tuổi trở lên: Chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

  1.  Một số vấn đề cần lưu ý

Trên thực tế, tội giết người có những biểu hiện gần giống với tội phạm khác có yếu tố dùng vũ lực gây thương tích hoặc gây chết người. do đó, cần có sự phân biệt.

–   Phân biệt giữa tội giết người ở giai đoạn phạm tội chưa đạt (hậu quả chết người chưa xảy ra nằm ngoài ý muốn của người phạm tội) với tội cố ý gây thương tích cho người khác nhưng dẫn đến hậu quả chết người. Hai trường hợp phạm tội này có điểm giống nhau là cùng gây thương tích cho người khác.

Điểm khác nhau cơ bản là trong trường hợp phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ của người khác là người phạm tội chỉ mong muốn hoặc bỏ mặc cho hậu quả gây thương tích xảy ra. Còn trường hợp phạm tội giết người chưa đạt là người phạm tội mong muốn hậu quả xảy ra, hậu quả chết người không xảy ra là ngoài ý muốn của họ

–  Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 có phân biệt trường hợp người phạm tội nhận thực được hành vi của mình có khả năng làm chết người mà vẫn có ý thức bỏ mặc cho hậu quả xảy ra muốn sao cũng được, nếu hậu quả là gây thương tích thì định tội cố ý gây thương tích, nếu hậu quả là chết người thì người phạm tội phạm vào tội giết người.

–  Phân biệt giữa tội giết người đã hoàn thành (hậu quả chết người đã xảy ra) với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại của người khác dẫn đến chết người

Hai trường hợp trên có điểm giống nhau là cùng gây ra hậu quả chết người. Điểm khác nhau giữa chúng là đối với hành vi cố ý gây thương tích dẫn đến chết người, người phạm tội chỉ mong muốn hậu quả thương tích xảy ra chứ không mong muốn làm chết người và cũng không có ý thức bỏ mặc hậu quả chết người xảy ra.

Còn đối với tội giết người, người phạm tội biết rõ hành vi của mình là tước đoạt mạng sống của người khác một cách trái pháp luật và hậu quả chết người xảy ra. Điểm khác nhau về ý thức chủ quan nêu trên được xác định qua các tình tiết biểu hiện ra bên ngoài như phương pháp, phương tiện thực hiện tội phạm, vị trí tác động, trình độ nhận thức, tính cách, mối quan hệ giữa người phạm tội với người bị hại…

Thực tiễn, phải định tội giết người nếu trong khi hành động, người phạm tội có những hành động cố ý, và hành động có khả năng làm chết người như dùng vật nhọn, sắc, cứng, chém hoặc đâm, đánh mạnh vào những chỗ hiểm yếu trên cơ thể nạn nhân như đầu, ngực, bụng, … hoặc cố ý đánh cho nạn nhân thương tích nặng để rồi sau đó bệnh chết.

–  Hành vi phá thai không gọi là giết người. Nếu giết phụ nữ biết là có thai thì không phải là giết nhiều người mà là tình tiết định khung tăng nặng.

–  Người bị giết trước khi đó phải là con người tự nhiên, sinh học, còn sống. Nếu “giết” một người đã chết hoặc người máy thì hành vi đó không phải là hành vi phạm tội giết người, vì tội giết người là tội xâm phạm đến tính mạng của con người. Tuy nhiên, nếu tưởng nhầm xác chết là người đang còn sống (người phạm tội sai lầm về đối tượng mà có hành vi phạm tội giết người thì vẫn coi là phạm tội. trong trường hợp nạn nhân dù sắp chết mà có hành vi giết họ thì cũng coi là phạm tội giết người)

  • Tội giết người

Khoản 1 Điều 93 – BLHS quy định: “Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình”

Phân tích:

  1. Khách thể của tội phạm: Tội giết người xâm phạm trực tiếp vào quyền được sống của giết người.

Quyền được sống của mỗi con người là một trong những quyền cơ bản của con người bắt đầu từ thời điểm lọt lòng người mẹ và đến khi được sinh ra trên trái đất.

Cuộc sống của mỗi con người bắt đầu từ thời điểm lọt lòng mẹ và đến khi tắt thở, tim ngừng đập theo quy luật của cuộc sống tự nhiên. Cần phân biệt ở đây là cơ thể sống vẫn đang phụ thuộc (bào thai trong bụng người phụ nữ chưa đến ngày sinh) cơ thể sống độc lập có thể là một cơ thể có khả năng trực tiếp nhận các điều kiện sống từ môi trường cho dù khả năng tiếp nhận hạn chế (người ốm, mắc bệnh hiểm nghèo, đã chết một số bộ phận nhưng chưa ngừng hoạt động toàn bộ mọi bộ phận trong cơ thể).

Đối tượng tác động của tội giết người là thân thể con người đang sống một cách bình thường.

  1. Mặt khách quan của tội phạm: Giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng người khác một cách trái pháp luật

Mọi hành vi tước đoạt sinh mạng người khác đều trái pháp luật trừ trường hợp thi hành án tử hình theo điều 229. Bộ luật tố tụng hình sự hoặc phòng vệ chính đáng theo Điều 15 – BLHS. Pháp luật nước ta chưa thừa nhận việc thực hiện cái chết nhân đạo vì vậy hành vi tước đoạt sinh mạng của người khác ngay cả khi có sự đồng ý của nạn nhân và người thân thích của họ vẫn phạm tội giết người.

Ví dụ: Bác sĩ giúp bệnh nhân chết nhanh hơn để tránh sự đau đớn kéo dài khi họ biết là ung thư ác tính, không thể cứu chữa, bằng cách tắt bình thở oxy…. mặc dù có sự đồng ý của bệnh nhân thì trong trường hợp này người bác sỹ vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người. Tuy nhiên khi xét xử sẽ được xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Tội giết người được thể hiện hành vi tước đoạt tính mạng người khác một cách trái pháp luật, vậy tước đoạt dính mạng người khác tức là không phải tự tước đoạt tính mạng của chính mình. Nếu có hành vi tự tước đoạt tính mạng của mình thì hành vi đó không cấu thành tội phạm mà gọi là hành vi tự sát (tự tử).

Hành vi phạm tội có thể được thực hiện bằng hành động, tức là dùng sức mạnh vật chất hoặc bằng các thủ đoạn khác tác động nên thân thể nạn nhân, gây nên cái chết cho nạn nhân. Hành vi giết người thường kèm theo sự hỗ trợ của công cụ phương tiện như dao, súng, thuốc độc….

Hành vi tước đoạt cũng có thể được thực hiện bằng phương pháp không hành động, tức là người phạm tội đã không làm một việc theo trách nhiệm, nghĩa vụ họ phải lằm nhằm tức đoạt tính mạng người khác.

Ví dụ; Không cho người khác ăn uống để người khác chết đói, chết khát mặc dù kẻ phạm tội này có nghĩa vụ phải cho ăn, uống như cha mẹ đối với con cái, y tá, hộ lý đối với bệnh nhân….

Trường hợp kẻ phạm tội tưởng nhầm xác chết là người đang còn sống mà có hành vi đâm, chém, bắn…. với ý thức giết thì vẫn phạm tội giết người. Khoa học luật hình sự gọi đó là sai lầm về khách thể.

Thời điểm hoàn thành của tội phạm được tính từ khi xảy ra hậu quả chết người. Nếu chưa gây ra hậu quả chết người thì tùy trường hợp cụ thể mà người thực hiện hành vi có thể phạm tội giết người ở các giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt hay tội phạm hoàn thành. Tội giết người có cấu thành tội phạm vật chất.

Khi xem xét hành vi giết người với hậu quả chết người xảy ra cần xác định mối quan hệ nhân quả giả hành vi và hậu quả. Tức là hành vi là nguyên nhân gây ra chết người phải xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian và có mối quan hệ nội tại, tất yếu đối với hậu quả, thể hiện ở chỗ: Cái chết của nạn nhân có cơ sở ngay trong hành vi của kẻ phạm tội: hành vi của kẻ phạm tội đã mang những thuộc tính làm sản sinh ra hậu quả chết người: hành vi của kẻ phạm tội trong những điều kiện nhất định sẽ gây ra hậu quả chết người chứ không thể khác được.

Ví dụ: Một người dùng súng bắn vào đầu người khác, tất yếu sẽ gây ra cái chết cho người này.

Nếu hậu quả chết người do nhiều nguyên nhân thì phải xác định nguyên nhân nào là nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân nào là nguyên nhân thứ yếu. Ngoài ra còn phải xét cả đến nguyên nhân nào là nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp. Thông thường hành vi là nguyên nhân trực tiếp mới phải chịu trách nhiệm về hậu quả, còn hành vi là nguyên nhân giám tiếp không phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả.

Ví dụ: A cho B mượn súng đi săn, B dùng dúng đó bắn chết người thì A không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người.

Tại khoản 1 Điều 93 – BLHS quy định một số dấu hiệu hành vi của mặt khách quan phản ánh mức độ tăng lên tính chất nguy hiểm của các trường hợp phạm tội (cấu thành tăng nặng).

  1. Mặt chủ quan của tội phạm – Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý. Đa số tội phạm giết người thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, có một số trường hợp do lỗi cố ý gián tiếp tương đối phức tạp, dễ nhầm lẵn với hình thức lỗi, vô ý do quá tự tin. Cho nên, khi xác định hình thức lỗi này cần gắn liền với việc xem xét động cơ mục đích của tội phạm.
  2. Chủ thể của tội phạm – Tội phạm giết người thực hiện bởi bất kỳ người nào đủ năng trách nhiệm hình sự và đạt từ 14 tuổi trở lên.
  3. Hình phạt – Trong khoản 2 (cấu thành cơ bản) quy định hình phạt tù từ 7 năm đến 15 năm.

Trong khoản 1 (cấu thành tăng nặng) quy định hình phạt từ từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình giết người có một trong các tình tiết quy định từ điểm a đến điểm q của khoản 1 điều luật.

Ngoài ra, người phạm tội có thể bị áp dụng các hình phạt bổ sung, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 1 năm đến 5 năm

  • Tội giết con mới đẻ (Điều 94 – BLHS)

Khoản 1 Điều 94 – BLHS quy định: “Người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà giết con mới đẻ hoặc vứt bỏ đứa con đó dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm”

  1. Khách thể của tội phạm – Tội phạm xâm phạm vào quyền được sống của người khác

Đối tượng tác động của tội phạm là con người, người mới được sinh ra trong vòng thời gian 7 nằng tuổi trở lại tính từ khi sinh ra (nghị quyết số 04 ngày 29/11/1986 của hội đồng thẩm phát Tòa án nhân dân tối cao).

  1. Mặt khách quan của tội phạm – Tội phạm được thể hiện ở hành vi được thực hiện bằng hành động hoặc không hành động … (xem mặt khách quan của tội giết người) dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết.

Hậu quả đứa trẻ chết là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm.

  1. Mặt chủ quan của tội phạm – Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý của chủ thể.

Mục đích, động cơ phạm tội cần phải được làm rõ để xác định tội phạm. Chủ thể phải do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu (sợ dư luận mà giết con ngoài giá thú) hoặc do hoàn cảnh khách quan đặc biệt (đưa trẻ bị dị tật từ lúc sinh…) hoặc người mẹ không có khả năng nuôi con mình như: Bị ốm nặng, mất sữa hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt khác.

  1. Chủ thể của tội phạm –Tội phạm được thực hiện là người phụ nữ đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi từ 16 tuổi trở lên, đồng thời phải là người đã sinh ra nạn nhân (nếu là mẹ nuôi, được xem xét ở điều 93 – BLHS)
  2. Hình phạt – Điều luật quy định một khung hình phạt. Cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm.
  • Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 95 – BLHS)

Khoản 1 Điều 95 – BLHS quy định: “Người nào giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.

  1. Khách thể của tội phạm – Tội phạm xâm phạm đến quyền được sống của con người
  2. Mặt khách quan của tội phạm – Hành vi trong mặt khách quan của tội phạm được thực hiện bằng những hành động cụ thể thông qua đối tượng tác động là con người bằng các thủ đoạn, hình thức khác nhau như: đánh, đấm, bắn, chém, bóp cổ,… (xem hành vi khách quan của tội giết người trong Điều 93 – BLHS).

Hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.

  1. Mặt chủ quan của tội phạm – Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý. Dấu hiệu trạng thái tinh thần bị kích động mạnh của chủ thể là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm, thể hiện.

Người tội phạm không thể hoàn toàn tự chủ, không thể kiềm chế được hành vi phạm tội của mình. Người phạm tội không còn nhận thức đầy đủ về hành vi của mình như lúc bình thường, nhưng chưa mất hẳn khả năng nhận thức. Lúc đó họ không thấy hết được mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mỉnh, trạng thái tinh thần của họ như người điên (người mất trí). Trạng thái này chỉ xảy ra trạng thái này chỉ xảy ra trở lại bình thường như trước. Nếu người phạm tội chỉ bị kích động, sự kích động chưa mạnh thì không thỏa mãn dấu hiệu này. Xác định tình tiết bị kích động hay chưa mạnh dựa vào từng vụ án cụ thể.

Trạng thái tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội phải do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây nên đối với người đó hoặc đối với người thân của người đó. Hành vi đó bao gồm những hành vi vi phạm pháp Luật hình sự như: xâm phạm đến sức khỏe, tài sản, nhân phẩm, danh dự…. hoặc nạn nhân có hành vi vi phạm pháp luật khác như Luật lao động, Luật Hôn nhân gia đình, Luật dân sự,… Hành vi trái pháp luật nói chung của nạn nhân phải là nghiêm trọng, xét mức độ nghiêm trọng tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể của hành vi trái pháp luật dẫn đến tình trạng thần kinh của người phạm tội bị kích động mạnh.

Trường hợp người phạm tội tự mình gây nên tình trạng tinh thần bị kích động mạnh rồi giết người cũng không thuộc trường hợp quy định tại Điều luật này.

Ví dụ: A cãi nhau với B dẫn đến hai người đánh nhau. A bị B đánh đau. A về nhà uống rượu say rồi đem dao găm đến nhà B gọi B ra cổng rồi dùng dao đâm chết B.

  1. Chủ thể của tội phạm – Tội phạm được thực hiện do người có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi từ 16 tuổi trở lên
  2. Hình phạt – Trong khoản 1, Điều luật này quy định khung hình phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

Trong khoản 2 (cấu thành tăng nặng) quy định tình tiết giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, chỉ bị phạt tù từ 3 năm đến 7 năm.

  • Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 96 – BLHS)

Khoản 1 Điều 96 – BLHS quy định: “Người nào giết người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm”

  1. Khách thể của tội phạm – Tội phạm xâm phạm đến quyền được sống của con người
  2. Mặt khách quan của tội phạm – Tội phạm này được thể hiện ở hành vi tước đoạt cuộc sống của người đang có hành vi xâm hại vào lợi ích nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của người phạm tội hoặc của người khác.

Hành vi khách quan của tội giếi người do vượt quá giới hạnh phòng vệ chính đáng cũng có các dấu hiệu như tội giết người. Nhưng hành vi này khác ở tội giết người ở chỗ nó chứa đựng 4 dấu hiệu cơ bản sau đây:

Thứ nhất: Nạn nhân là người có hành vi xâm hại vào lợi ích Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Hành vi xâm hại của nạn nhân có thể là hành vi phạm tội hoặc là hành vi nguy hiểm cho xã hội

Thứ hai: Hành vi xâm hại của nạn nhân phải đang diễn ra (đã bắt đầu mà chưa kết thúc), diễn ra một cách thực sự chứ không phải là sự suy đoán tưởng tượng.

Thứ ba: Thiệt hại là cái chết gây ra cho chính nạn nhân (là người có hành vi xâm hại vào lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân)

Thứ tư: Hành vi phòng vệ của người phạm tội rõ ràng vượt quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại do nạn nhân thực hiện

Nếu so sánh với những dấu hiệu của phòng vệ chính đáng thì vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả (phòng vệ) vượt quá mức cần thiết so với tính chất, mức độ của hành vi xâm hại và rõ ràng là quá đáng gây nên cái chết không cần thiết cho người có hành vi xâm hại. Như vậy, giữa giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và hành vi khách quan của tội giết người trong Điều 93 – BLHS chỉ khác nhau ở cơ sở pháp lý của phòng vệ.

Ví dụ: A vào nhà B dùng dao đâm bị thương chủ nhà rồi cướp tài sản. Khi A đang thực hiện hành vi nói trên thì C là người hàng xóm của B cầm thanh sắt chạy sang. Thấy A đang cầm dao, C lao vào quật tung dao khỏi tay A. Nhưng C lại sợ A lấy được dao nên C quật tiếp nhiều nhát vào đầu A làm A chết ngay tại chỗ. Như vậy, nếu C dừng lại ở chỗ quật tung dao ở tay A thì là phòng vệ chính đấng. Nhưng sau đó khi  loại bỏ được nguồn nguy hiểm (dao đã rời khôi tay A). A trong trạng thái tay không mà C quật nhiều nhát và gây nên cái chết cho A là hoàn toàn không cần thiết. Do vậy, hành vi của C là hành vi giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.

Hậu quả của tội phạm là làm chết người có hành vi xâm hại một cách không cần thiết. Do tội phạm có cấu thành vật chất, cho nên hậu quả cheét người là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm. Khi xác định tội phạm caàn xem xét mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả xảy ra.

  1. Mặt chủ quan của tội phạm – tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý. Động cơ của hành vi là nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
  2. Chủ thể của tội phạm – Tội phạm này được thực hiện bởi bất kỳ người nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi từ 16 tuổi trở lên.
  3. Hình phạt – Điều luật quy định hình phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm ở cấu thành tội phạm cơ bản (khoản 1)

Khoản 2 (cấu thành tăng nặng) quy định tình tiết giết nhiều người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 5 năm.

  • Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 97 – BLHS)

Khoản 1 Điều 97 – BLHS quy định: “Người nào trong khi thi hành công vụ mà làm chết người do dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.

  1. Khách thể của tội phạm – Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ xâm phạm trực tiếp vào quyền được sống của mỗi con người
  2. Mặt khách quan của tội phạm – Tội thể hiện ở hành vi làm chết người do dùng vũ lực ngoài trường hợp pháp luật cho phép.

Dùng vũ lực là dùng sức mạnh vật chất tác động vào thân thể của người khác gây nên cái chết cho họ. Việc dùng sức mạnh vật chất có thể bằng chân tay không hoặc có trợ giúp của công cụ phương tiện.

Trong nghị định số 84 ngày 02/7/1984 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là chính phủ) quy định chỉ được nổ súng vào các đối tượng cụ thể khi đã hô đứng lại hoặc đã nổ súng cảnh cáo mà đối tượng đó không tuân lệnh. Trong các trong các trường hợp cấp bách sau đây có thể được nổ súng ngay vào đối tượng mà không cần phải có hành vi ra khẩu lệnh hoặc bắn cảnh cáo:

  • Những kẻ đang dùng vũ lực gây bạo loạn, đang phá hoại hoặc đang hành hung cán bộ, chiến sĩ bảo vệ, đang tấn công đối tượng hoặc mục tiêu bảo vệ.
  • Những kẻ đang phá trại giam, cướp phạm nhân; những phạm nhân đang nổi loạn, cướp vũ khí, phá trại giam hoặc dùng vũ lực uy hiếp tính mạng cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ quản lý canh gác dẫn giải tội phạm; những kẻ phạm tội nguy hiểm đang bị giam giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang có lệnh bắt giữ mà chạy trốn.
  • Những kẻ không tuân lện của cán bộ chiến sĩ đang tiến hành tuần tra, canh gác, khám xét, lại dùng vũ lực chống lại, uy hiếp tính mạng của nhân dân
  • Bọn lưu manh côn đồ đang giết người, hiếp dâm, gây mất trật tự rất nghiêm trọng, đang dùng vũ lực cướp tài sản nhà nước, tài sản của công dân
  • Người điều khiển phương tiện không tuân lệnh, cố tình chạy trốn khi người kiểm soát phương tiện giao thông vận tải ra lệnh và đã biết rõ trên phương tiện có vũ khí hoặc tài liệu phản động, có tài liệu bí mật quốc gia, có tài sản đặc biệt quý giá của Nhà nước hoặc có bọn phạm tội, có bọn lưu manh, côn đồ đang sử dụng phương tiện để chạy trốn thì được phép bắn hỏng phương tiện để bắt giữ đối tượng.

Trong Điều 20 Pháp lệnh Cảnh sát nhân dân ngày 28/1/1989 cũng quy định: Cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân được dùng vũ lực khi bị người có hành vi phạm tội chống cự, ngăn chặn hoặc để bắt giữ người có hành vi hung hãn chống hoặc chạy trốn khi áp giải.

Như vậy người các trường hợp nói trên mà dùng vũ lực gây chết người đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 97 – BLHS.

Ví dụ: Khoảng 22 giờ, A là Cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ canh gác ở đầu cầu phát hiện một chiếc xe ô tô không có đèn chạy với tốc độ nhanh qua cầu. A ra lệnh cho xe dừng lại, nhưng xe vẫn chạy nhanh không dừng lại, A rút súng nhằm chiếc xe ô tô bắn ngay làm chết người lái xe. Như vậy việc sử dụng vũ khí của A là ngoài trường hợp pháp luật cho phép.

Hậu quả làm chết người là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm nạn nhân có thể là người có hành vi trái pháp luật cũng có thể là người khác. Như trường hợp nạn nhân không có hành vi trái pháp luật, nhưng họ bị chết hoặc bị thương là do hành vi của người đang có hành vi xâm hại đến lợi ích cần bảo vệ.

Ví dụ: Một người đi nhờ người lái thuyền đã cố tình không chấp hành lệnh kiểm tra lại bỏ chạy, buộc cảnh sát giao thông đường thủy đang làm nhiệm vụ phải nổ súng yêu cầu người lái thuyền phải dừng lại nhưng đại lại trúng người đi nhờ thuyền làm cho người này bị chết.

Trường hợp người đang thi hành công vụ cậy mình có vũ khí, tỏ ra hống hách, coi thường tính mạng của người khác sử dụng vũ khí gây chết người, thì dù là người đang thi hành công vụ vẫn phạm tội giết người.

Tội phạm cấu thành vật chất, cho nên cần xem xét mối quan hệ giữa hành vi phạm tội với hậu quả của tội phạm gây nên.

  1. Mặt chủ quan của tội phạm – Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý gián tiếp hoặc có thể là lỗi vô ý. Động cơ của hành vi là nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của Pháp luật
  2. Chủ thể của tội phạm – Tội phạm này được thực hiện bởi người có dấu hiệu chủ thể đặc biệt, ngoài điều kiện của chủ thể thường còn phải là người có chức năng nhiệm vụ do có quan Nhà nước, tổ chức xã hội giao phó đang thực thi công vụ. Ngoài ra, cũng có thể được coi là chủ thể của tội phạm này nếu người tuy không có trách nhiệm nhưng đã tham gia đấu tranh chống những hành vi xâm phạm đến những lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của công dân.

Ví dụ: A là một giáo viên, trên đường đến trường dạy học thì gặp tổ bảo vệ đang đuổi kẻ trộm. Người tổ trưởng đưa cho A một khẩu CKC đã lên đạn sẵn vì biết trước kia A đã có một thời gian trong quân đội, Khi đuổi theo kẻ trộm, A chưa hô đứng lại, nhằm luôn vào kẻ trộm bắn 2 phát làm tên trộm chết tại chỗ.

  1. Hình phạt – Điều luật quy định hình phạt tù từ 2 năm đến 7 năm ở cấu thành cơ bản (Khoản 1)

Tại khoản 2 quy định tình tiết phạm tội làm chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác thì bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm.

Ngoài ra, Điều luật này quy định phạt bổ sung. Người phạm tội có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm.

  • Tội vô ý làm chết người (Điều 98 – BLHS)

Khoản 1 Điều 98 – BLHS quy định: “Người nào vô ý làm chết người thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm:.

  1. Khách thể của tội phạm – Tội này xâm phạm vào quyền được sống của con người
  2. Mặt khách quan của tội phạm – Hành vi khách quan của tội phạm được thể hiện ở việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các quy tắc an toàn gây nên cái chết cho con người.

Những quy tắc an toàn được quy định ở nhiều lĩnh vực khác nhau, nó bao gồm những quy định thành văn bản hoặc những quy tắc xử sự xã hội mà đã trở thành tập quán và mọi người đều biết, thừa nhận và chấp hành.

Ví dụ: Vi phạm những quy tắc an toàn ở những khu vục tập thể, khu vực đông người (người sống ở trên tằng 5 nhà tập thể đã vô ý vứt bỏ vỏ chai xuống đường làm người qua đường bị vỏ chai rơi trúng đầu chết).

Những quy định thành văn bản của nhiều ngành, trên nhiều lĩnh vực. Thông thường đó là những quy tắc nghề nghiệp quy tắc hành chính đỏi hỏi mọi người phải tuyệt đối tuân thủ (Riêng những chủ thể có trách nhiệm tuân thủ vì nghĩa vụ nghề nghiệp thì truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 99 – BLHS).

Hậu quả chết người là yếu tố bắt buộc trong cấu thành tội phạm. Nếu sự vi phạm mà chưa gây hậu quả chết người thì tùy  trường hợp mà xem xét trách nhiệm hành chính hay các trách nhiệm khác.

Xem xét tội phạm cần làm rõ thái độ chủ quan của người phạm tội đối với các quy định của Pháp luật. Đây là dấu hiệu đặc trưng để phân biệt giữa Tội giết người và tội vô ý làm chết người.

  1. Mặt chủ quan của tội phạm – Tội phạm được thực hiện bởi hình thức lỗi vô ý. Bao gồm cả lỗi vô ý do cẩu thả và vô ý gì quá tự tin
  2. Chủ thể của tội phạm – Tội phạm có thể được thực hiện bởi bất kỳ người nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo pháp luật quy định
  3. Hình phạt – Điều quy định khung hình phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm (cấu thành cơ bản, khoản 1)

Khoản 2 quy định trường hợp phạm tội làm chết nhiều người thì bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm (cấu thành tăng nặng).

  • Tội bức tử (Điều 100 – BLHS)

Khoản 1 điều 100 – BLHS quy định: “Người nào đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình làm người đó tự sát, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”

  1. Khách thể của tội phạm – Tội phạm xâm phạm vào quyền được sống của con người.
  2. Mặt khách quan của tội phạm – Bức tử là hành vi đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình làm người đó tự tước đoạt tính mạng của mình

Hành vi khách quan của tội bức tử được thể hiện:

  • Đối xử tàn ác với nạn nhân: Người phạm tội có hành vi đối xử một cách tàn nhẫn, có hành động gây đau đớn cho người lệ thuộc vào mình. Sự đau khổ về tinh thần như: bị đánh đặp, bị bỏ đói, bị bỏ rét gây đau đớn về thể xác không cho học hành vui chơi…. hành vi không chỉ bị pháp luật ngăn cấm mà còn bị xã hội lên án. Nhưng những hành vi đó chưa đến mức gây thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe. Nếu hành vi đó đã gây thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe cho nạn nhân thì tùy từng trường hợp có thể phải truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều luật tương ứng (như tội cố ý gây thương tích…)
  • Hành vi ức hiếp, ngược đãi: sự đối xử bất công, tàn nhẫn,,, trái với luân lý, đạo đức con người như con cái đối với bố mẹ, giữa con cháu với ông bà, giữa vợ nhau…

Ví dụ: Bà Trần Thị A ở quê lên thăm con trai trên thành phố là Phạm Văn Đ, bà A làm gì cũng bị Đ mắng là ngu đần. Đến bữa không cho ăn cơm cùng mà đuổi xuống bếp bắt ăn cơm thừa, canh cặn. Đ còn luôn miệng nhiếc móc đuổi mẹ về, bắt ngủ dưới chân cầu thang. Một hôm do sơ ý bà A đánh vỡ phích nước, Đ đã quát tháo chửi mắng thậm tệ, vì quá uất ức với con trai đêm đó bà A đã thắt cổ tự tử.

  • Hành vi làm nhục: Chửi bới, lăng mạ, xỉ nhục… gây tổn hại nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của người bị lệ thuộc như: xỉ vả trước đám đông, tung tin thất thiệt để người khác thấy nạn nhân xấu xa, lăn loàn…

Ví dụ: Nguyễn văn H có vợ là chị K, do nghi vợ mình ngoại tình, H đã tra khảo chi K, cạo đầu bôi vôi, lột hết quần áo đuổi ra đường. Chị K quá uất ức đã nhả xuống sông tự tử.

Do bị đối xử tàn ác, thường xuyên bị ức hiếp, ngược đãi làm nhục… mà người bị lệ thuộc đã có hành vi tự sát (tự tước bỏ quyền được sống của mình). Hậu quả tự sát là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm không kể việc tự sát của nạn nhân có dẫn đến cái chết hay không.

Để truy cứu trách nhiệm hình sự tội phạm cần có các điều kiện sau:

Thứ nhất: Hành vi khách quan nói trên phải xảy ra thường xuyên, tức là lặp đi, lặp lại nhiều lần trong một khoảng thời gian nhất định.

Thứ hai: Chính do những hành vi khách quan này đã dẫn đến việc nạn nhân tự sát chứ không phải nguyên nhân, lý do nào khác (nguyên nhân trực tiếp, chủ yếu). Còn hậu quả chết người hay không chết người không phải là dấu hiệu bắt buộc.

Thứ ba: Giữa hành vi khách quan với hành vi tự sát của nạn nhân phải có mối quan hệ nhân quả.

  1. Mặt chủ quan của tội phạm – Tội phạm được thể hiện do lỗi cố ý gián tiếp hoặc lỗi vô lý
  2. Chủ thể của tội phạm – Ngoài dấu hiệu của chủ thể thường, chủ thể của tội phạm này phải là người có quan hệ quyền hành nhất định đối với nạn nhân là người lệ thuộc về kinh tế, quan hệ gia đình, họ hàng, quan hệ công tác, tín ngưỡng….
  3. Hình phạt – Điều luật quy định phạt tù từ 2 năm đến 7 năm ở khoản 1(cấu thành cơ bản)

Khoản 2 (cấu thành tăng nặng) quy định trường hợp phạm tội làm nhiều người tự sát thì bị phạt tù từ 5 năm đến 12 năm.

  • Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát ( Điều 101 – BLHS)

Khoản 1 Điều 101 – BLHS quy định: “Người nào xúi giục làm người khác tự sát hoặc giúp người khác tự sát, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.

  1. Khách thể của tội phạm – Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát xâm phạm vào quyền được sống của con người.
  2. Mặt khách quan của tội phạm – Điều lucaatj quy định hai loại hành vi: Xúi giục và giúp người khác tự sát. Tự sát được hiểu là tự tước đoạt tính mạng của mình (tự tử).
  • Hành vi xúi giục người khác tự sát là kích động, dụ dỗ, thúc đẩy, lừa dối… một người để họ từ chưa có ý định, hoặc đã có ý định tự sát nhưng vì lý do nào đó mà từ bỏ ý định đó lại làm họ nảy sinh hoặc phục hồi tái tạo ý định tự sát …. đi đến sự quyết định thực hiện hành vi tự tước bỏ cuộc sống của họ.

Ví dụ: Ông A bị bệnh liệt toàn thân đã 5 năm nằm liệt trên giường mà không đứng dậy được, ông B là bạn từ thuở nhỏ đến thăm nói: “Ông A này hay là ông chết đi cho con chấu đỡ khổ, chúng nó làm không đủ ăn mà cứ phục vụ ông thế này… nêu như tôi thì tôi đã đi gặp các cụ tổ từ lâu rồi…” Sau đó, ông A suy nghĩ quyết định tự sát và ông A đã tự sát. Trong trường hợp này ông B phạm tội xúi giục người khác tự sát.

  • Hành vi giúp người khác tự sát là tạo nên các điều kiện về vật chất hoặc về tinh thần để người khác tự tước đoạt quyền sống của mình, để họ tự thực hiện việc tự sát được dễ dàng, như cung cấp các loại thuốc độc, dây để treo cổ, các loại công cụ phương tiện cần thiết khác…. chỉ dẫn phương pháp tự sát, hứa hẹn đối với người chuẩn bị tự sát.v.v..

Ví dụ: Sau khi nghe ông B nói vậy, ông A trả lời: “ Vậy tôi nên chết như thế nào?” Ông B tiếp lời: “Tôi sẽ pha cho ông cốc thuốc, ông chỉ uống là xong thôi, rất nhẹ nhàng”. Sau đó ông B có pha cho ông A cốc thuốc trong đó có liều lượng thuốc ngủ cực mạnh. Ông A đã uống và chết. Như vậy ông B phạm tội giúp người khác tự sát. Cần phân biệt hành vi “giúp đỡ” bằng cách cầm cốc thuốc đổ vào mồm ông A và gây nên cái chết của ông A. (Hành vi khách quan của tội giết người).

Hâu quả của việc xúi giục hoặc giúp người khác tự sát là người được xúi giục, được giúp đỡ tự ình thực hiện hành vi tự sát, không kể người đó có chết hay không chết. Trong trường hợp này cần xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi xúi giục hoặc giúp đỡ…. với hành vi tự sát (hậu quả) xảy ra.

  1. Mặt chủ quan của tôi phạm – Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý. Tức là nhận thấy rõ hành vi của mình là nguy hiểm đến tính mạng của nạn nhân, thấy trước được hành vi xúi giục hoặc giúp người khác tự sát là tạo điều kiện để người khác tự sát được dễ dàng và mong muốn hoặc bỏ mặc cho việc tự sát xảy ra.
  2. Chủ thể tội phạm – Tội phạm được thực hiện bởi người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi từ 16 trở lên.
  3. Hình phạt – Điều luật quy định hình phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm ở khoản 1 (cấu thành cơ bản).

Cấu thành tăng nặng (khoản 2) quy định tôi phạm làm nhiều người tự sát thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm.

  • Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng (Điều 102 – BLHS)

Khoản 1 Điều 102 – BLHS quy định: “Người nào thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó chết, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không gian giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm”.

  1. Khách thể của tội phạm – Tội phạm này xâm phạm vào quyền được sống của con người.
  2. Mặt khách quan của tội phạm – Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng là hày vi của người thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó chết.

Hành vi khách quan của tội phạm được thể hiện dưới hình thức không hành động, tức là một biểu hiện tiêu cực họ đã không làm một việc mà lẽ ra họ phải làm, và pháp luật buộc họ phải làm khi ở trong điều kiện, hoàn cảnh có thể thực hiện được. Người phạm tội thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm, tình trang đang bị đe dọa thực sự, nhưng họ đã không làm, không thực hiện nghĩa vụ của mình để loại trừ sự nguy hiểm nên dẫn đến hậu quả đó chết. “Thấy” ở đây hoặc làm mắt nhìn thấy hoặc tuy mắt không nhìn thấy nhưng có đầy đủ căn cứ để biết rõ người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng.

Người đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng là người đang gặp rủi ro, đang gặp tai nạn… mà đang bị đe dọa trực tiếp đến sự sống, có nghĩa rằng nếu nười này không được cứu giúp kịp thời thì cái chết sẽ đến với họ.

Như vậy chúng ta thấy để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này cần có hai điều kiện sau:

Thứ nhất: người đó phải là người có điều kiện cứu giúp mà đã không cứu giúp. Tức là họ thờ ơ với quyền sống, tính mạng của người khác.

Thứ hai: Phải có hậu quả chết người xảy ra, nạn nhân chết do không được cứu giúp.

Khi xét một trường hợp cụ thể phải căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể lúc xảy ra tình trạng nguy hiểm của người bị nạn, căn cứ vào kinh nghiệm, trình độ chuyên môn, tình trạng sức khỏe công cụ, phương tiện, thời gian, địa điểm… chứ không chỉ căn cứ đơn thuần vào khả năng sẵn có của người cứu giúp.

Ví dụ: Một bác sỹ vào rừng đi dăn gặp một người bị đau ruột thừa cấp tính, nếu không mổ ngay người đó sẽ chết. Vì không có phương tiện, không có xe qua lại khu vưj này nên người bác sỹ đó đã cõng người bệnh ra khu rừng nhưng do đường xa nên bệnh nhân đã chết, ở đây khả năng cứu bệnh nhân của Bác sỹ đó có, nhưng những yếu tố khách quan cần thiết để cứu giúp người bệnh không đủ nên cũng không coi là phạm tội.

Hậu quả của tội phạm: Do nạn nhân không được cứu giúp kịp thời, cho nên người đó đã chết. Hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.

Trowng trường hợp hậu quả không xảy ra có thể xem xét trách nhiệm hành chính với người có hành vi cố ý không cứu giúp người khác khi có đủ điều kiện.

  1. Mặt chủ quan của tội phạm – Tôị phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý (cố ý giàn tiếp).
  2. Chủ thể của tội phạm – Tội phạm được thực hiện bởi người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi từ 16 trở lên. Ngoài ra cần thiết phải có thêm dấu hiệu chủ thể đặc biệt đó là : Người có đủ điều kiện giúp đỡ.
  3. Hình phạt – Điều luật quy định hình phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc bị phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm ở cấu thành cơ bản (khoản 1).

Trong cấu thành tăng nặng (khoản 2) Điều luật quy định hình phạt tù từ 1 năm đến 5 năm trong hai trường hợp, chủ thể không cứu giúp là người đã vô ý gây tình trạng nguy hiểm cho nạn nhân hoặc chủ thể không cứu giúp là người có nghĩa vụ pháp lý phải cứu giúp (người mà theo pháp luật hay nghề nghiệp phải có nghĩa vụ kể trên).

Ngoài ra, Điều luật còn quy định hình phạt bổ sung. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm.

  • Tội đe dọa giết người (Điều 103 – BLHS)

Khoản 1 Điều 103 – BLHS quy định: “Người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phải cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm”.

  1. Khách thể của tội phạm – Tội phạm này xâm phạm đến quyền được sống của con người.
  2. Khách quan của tội phạm – Hành vi khách quan của tội đe dọa giết người thể hiện ở hành vi đe dọa tước đoạt tính mạng của người khác. Sự đe doạn này có thể trực tiếp bằng lời nói, cử chỉ như: mài dao, lấy dúng, lên đạn….; hoặc có thể gián tiếp thông qua điện thoại, thư tín, điện tín, điện báo, qua trung tâm….

Để truy cứu trách nhiệm hình sự hành vi đe dọa giết người phải có điều kiện, cơ sở là làm cho người bị đe dọa có tâm lý lo sợ và tin rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện.

Để xác định người bị đe dọa lo sợ cần căn cứ vào:

  • Nhân thân của người đe dọa.
  • Thời gian, hoàn cảnh, địa điểm cụ thể khi có hành vi đe dọa giết người
  • Sự tương quan về sức lực, lực lượng… giữa người đe dọa và người bị đe dọa

Thái độ tâm lý của người bị đe dọa là dấu hiệu buộc người phạm tội. Việc xác định người bị đe dọa phải căn cứ vào thái độ, các hoạt động của họ sau khi nhận được sự đe dọa. Nếu vào hoàn cảnh đó nhiều người cho rằng đe dọa đó được thực hiện thì sự lo sợ của người bị hại là có căn cứ.

Cần phân biệt những hành vi ở giai đoạn chuẩn bị của tội giết người  với hành vi khách quan của tội đe dọa giết người, sự khác nhau găn bản ở chỗ chủ thể thực hiện chỉ dừng lại việc thông tin bằng cách cách thức cố ý tạo cho nạn nhân tin và cho rằng tính mạng của họ thực sự bị đe dọa hặc đã thực hiện hành vi “Khủng bố” về mặt tinh thần.

Ví dụ: Ném lựu đạn đã théo hết thuốc nổ hoặc lựu đạn giả vào đối tượng tác động,…

  1. Mặt chủ quan của tội phạm – Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý, mục đích chỉ đe dọa nạn nhân lo sợ, chứ không có ý định giết người.
  2. Chủ thể của tội phạm – Tội phạm được thực hiện bở người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi từ 16 trở lên.
  3. Hình phạt – Điều luật quy định khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm (cấu thành tội cơ bản, khoản 1)

Cấu thành tăng nặng khoản 2 quy định khung hình phạt tù từ hai năm đến bảy năm cho các trường hợp sau đây:

  • Đối với nhiều người: Được hiểu là đe dọa giết từ hai người trở lên
  • Đối với người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân (xem giải thích trong tội giết người)
  • Đối với trẻ em: là đe dọa giết nạn nhân là người dưới 16 tuổi
  • Để cho giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác.
  • Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 104 – BLHS)

Khoản 1 Điều 104 – BLHS quy định: “Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.

  1. Mặt khách thể tội phạm – Tội phạm xâm phạm vào quyền bảo vệ sức khỏe của công dân.
  2. Mặt khách quan của tội phạm – Tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có các loại hành vi sau:
  • Gây thương tích cho người khác: Dùng sức mạnh vật chất tác động lên thân thể con người làm cho con người có những thương tích nhất định (để lại dấu vết) việc dùng sức mạnh vật chất có thể dùng chân tay hoặc các công cụ phương tiện hỗ trợ như dao, súng, gậy,… làm cho người bị hại mất đi một hay nhiều bộ phận trên cơ thể.
  • Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác: Dùng sức mạnh vật chất tác động lên thân thể của con người làm cho sức khỏe của nạn nhân yếu đi, không còn nguyên vẹn như trước dù không để lại dấu vết trên thân thể họ.

Các hành vi trên về hình thức xũng giống như hành vi của tội giết người như tính chất và mức độ nguy hiểm thấp hơn, nên nó chỉ làm cho nạn nhân bị thương hoặc tổn hại đến sức khỏe chứ không làm cho nạn nhân bị chết.

“Người khác” nói trong Điều luật là trường hợp không phải gây thiệt hại sức khỏe của mình. Nếu gây thiệt hại cho sức khỏe của mình để trốn tránh một nghĩa vụ phải làm thì tùy trường hợp có thể xem xét trách nhiệm hình sự theo tội khác

Ví dụ: Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự – Điều 259 – BLHS

Dấu hiệu hậu quả của tội phạm này được xác định ở mức độ thương tích, hoặc gây nên mức độ tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân từ 11% trở lên đến 30%. Nếu mức thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe từ 31% trở lên thì được coi là tình tiết định khung tăng nặng khi quyết định hình phạt. (Tỷ lệ % thương tích là kết quả giám định của Hội đồng giám định y khoa).

Điều quy định cụ thể trường hợp tỷ lệ % thương tích dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1 thì người có hành vi phạm tội vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này.

Tội phạm có cấu thành vật chất, cho nên cần xem xét mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả xảy ra.

  1. Mặt chủ quan của tội phạm – Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân.
  2. Mặt chủ thể của tội phạm – Tội phạm được thực hiện bởi người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo luật định
  3. Hình phạt – Trong khoản 1 (cấu thành cơ bản) quy định hình phạt cải tạo không gia giữ đến 3 năm hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm

Trong khoản 2, quy định hình phạt tù từ 2 năm đến 7 năm cho trường hợp phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a đến k khoản 1.

Trong khoản 3 quy định khung hình phạt tù từ 5 năm đến 15 năm cho trường hợp phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên, hoặc dẫn đến chết người (cần phân biệt với tội giết người ở mục đích gây thương tích), hoặc từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến k khoản 1.

Trong khoản 4 quy định hình phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân cho trường hợp phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.

  • Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 105 – BLHS)

Khoản 1 Điều 105 – BLHS quy định: “Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến hai năm”.

  1. Khách thể của tội phạm – Tội phạm xâm phạm vào quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người
  2. Mặt khách quan của tội phạm – Hành vi khách quan của tội phạm giống hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 104 – BLHS)

Về dấu hiệu hậu quả: Điều luật quy định tỷ lệ thương tật cho nạn nhân phải từ 31% trở lên đến 60%. Nếu trên 61% thì được coi là tình tiết định khu tăng nặng trong khi quyết định hình phạt.

Nếu dưới 31% thì hành vi gây thương tích trong trong trường hợp này không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

  1. Mătj chủ quan của tội phạm – Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý

Dấu hiệu người thực hiện hành vi trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm (xem giải thích tại Điều 95 – BLHS)

  1. Chủ thể của tội phạm – Tội phạm được thực hiện bởi người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi từ 16 trở lên
  2. Hình phạt – Trong khoản 1 (cấu thành cơ bản) quy định hình phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến hai năm

Trong khoản 2 quy định hình phạt tù từ một năm đến năm năm cho các trường hợp phạm tội đối với nhiều người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khắc mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác.

  • Tội cố ý gây thương tích hoặ gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 106 – BLHS).

Khoản 1 Điều 106 – BLHS quy định: “Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên hoặc dẫn đến chết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm”.

  1. Khách thể của tội phạm – Tội phạm xâm phạm vào quyền bảo hộ về sức khỏe của con người
  2. Mặt khách quan của tội phạm – Hành vi khách quan của tội phạm giống hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 104)

Về dấu hiệu hậu quả: Điều luật quy định tỷ lệ thương tật cho nạn nhân phải từ 31% trở lên, hoặc dẫn đến chết người là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm  (Trường hợp nạn nhân bị chết là nằm ngoài ý muốn của người phạm tội).

  1. Mặt chủ quan của tội phạm – Tội được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý

Động cơ của hành vi là vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể, lợi chính đáng của mình hoặc của người khác. Nói cách khác, dấu hiệu vượt quá giới hạn của chế định phòng vệ chính đáng, gây thiệt hại rõ ràng là quá đáng, vượt quá mức cần thiết so với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại là dấu hiệu định tội của tội phạm này.

  1. Chủ thể của tội phạm – Tội phạm được thực hiện bởi người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi từ 16 tuổi trở lên
  2. Hình phạt – Trong khoản 1( cấy thành cơ bản) quy định hình phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm

Trong khoản 2 (cấu thành tăng nặng) quy định hình phạt tù từ một năm đến ba năm cho trường hợp phạm tội đối với nhiều người.

 

  • Tội hiếp dâm (Điều 111 – BLHS)

Khoản 1 Điều 111 – BLHS quy định: “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng trong tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giáo cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.

  1. Khách thể của tội phạm – Tội hiếp dâm xâm phạm vào danh dự, nhân phẩm của người khác (tức là xâm phạm vào quyền tự do tình dục của người khác)
  2. Mặt khách quan của tội phạm – Tội phạm này được thể hiện ở hành vi dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác để giao cấu trái ý muốn với người khác.

Dùng vũ lực là dùng sức mạnh vật chất tác động lên thân thể của người khác nhằm đè bẹp sự kháng cự của nạn nhân để thực hiện hành vi giao cấu như vật ngã, trói, đánh, giữ chân tay, xé quần áo…..Thủ đoạn khác thể hiện ở hành vi đe dọa dùng vũ lực, uy hiếp về tinh thần….làm cho nạn nhân khiếu sợ, hoặc dùng các chất gây mê đưa họ vào tình trạng bất lực, không thể kháng cự như cho uống thuốc mê, thuốc ngủ… để thực hiện hành vi giao cấu. Thủ đoạn khác còn có thể là việc lợi dụng sự vướng mắc, trong một hoàn cảnh đặc biệt không thể biểu lộ sự không đồng ý mà không thể kháng cự của nạn nhân để thực hiện hành vi giao cấu (lợi dụng nạn nhân bị tâm thần, bị ngất…)

Giao cấu trái ý muốn là giao cấu không được sự đồng ý của người bị giao cấu. Việc xác định trái ý muốn hay không cần dựa vào thực tế người phạm tội có dùng vũ lực hay thủ đọa khác hay không, thái độ của người bị hại trước, trong và sau khi bị hieeusp dâm. Để xác định việc giao cấu trái ý muốn của nạn nhân người ta thường căn cứ vào nhiều yếu tố khác như:  Mối quan hệ giữa hai người, thủ đọa thực hiện tội phạm, hoàn cảnh cụ thể khi xảy ra việc giao cấu, nhân thân của cả hai người, ý kiến của cơ quan, tổ chức xã hội nơi hai người công tác, bạn bè, cha mẹ và các tình tiết khác của vụ án. Chỉ khi nào chứng minh hành vi giao cấu là trái ý muốn của người bị giao cấu thì hành vi giao cấu mới phạm tội hiếp dâm.

Nạn nhân nói trong điều luật là người phụ nữ từ đủ 16 tuổi trở lên. Nếu nạn nhân là người dưới 16 tuổi thì truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều 112 – BLHS (Tội hiếp dâm trẻ em). Mọi trường hợp giao cấu với người dưới 13 tuổi đề bị coi là phạm tội hiếp dâm trẻ em không kể được sự đồng ý hay không đồng ý của nạn nhân.

Tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội có hành vi giao cấu với nạn nhân, không kể việc giao cấu đã kết thúc về mặt sinh lý hay chưa.

  1. Mặt chủ quan của tội phạm – Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý trực tiếp.
  2. Chủ thể của ội phạm – Tôi phạm được thực hiện do người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo luật định. Ngoài ra còn đòi hỏi dấy hiệu chủ thể đặc biệt, tức là phải là nam giới nếu là nữ giới thì nữ giới giữ vai trò đồng phạm (người tổ chức, người xúi giục hoặc người giúp sức)
  3. Hình phạt – Trong khoản 1 (cấu thành cơ bản) quy định khung hình phạt tù từ hai năm đến bảy năm; khoản 4 quy định khung hình phạt tù từ năm năm đến mười năm (nạn nhân ở độ tuổi từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi người chưa thành niên).

Trong khoản 2 (cấu thành tăng nặng) quy định khung hình phạt tù từ bảy năm đến mười năm năm cho các trường hợp phạm tội sau:

  • Có tổ chức: (xem giải thích trong tội giết người)
  • Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh.
  • \Nhiều người hiếp một người; được hiểu là có từ hai người trở lên hiếp dâm một người
  • Phạm tội nhiều lần: Được hiểu là đã thực hiện hành vi hiếp dâm từ hai lần trở lên và cả hai lần đều cấu thành tội phạm nhưng chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự lần nào
  • Đối với nhiều người: Đực hiểu là cùng một thời gian (cùng một lúc) hiếp dâm từ hai người trở lên
  • Có tính chất loạn luân: Được hiểu lả hiếp dâm nạn nhân là người cùng cha, mẹ, cùng cha khác mẹ, hoặc cùng mẹ khác cha, những người cùng dòng máy trực hệ trong phạm vi ba đời.
  • Làm nạn nhân có thai
  • Gây tổn hại cho sức khẻo của nạn nhân mày tỷ lệ thương tật 31% đến 60%
  • Tái phạm nguy hiểm. (xem giải thích trong tội giết người)

Trong khoản 3 (Cấu thành đặc biệt tăng nặng) quy định khung hình phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình cho các trường hợp sau:

  • Gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên
  • Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội (ở đây cần chú ý là người phạm tội không cố ý lây truyền HIV cho nạn nhân, nếu cố ý lân truyền HIV cho nạn nhân thì truy cứu trách nhiệm hình sự theo hai tội: “Tội hiếp dâm Điều 111 – BLHS” và “Tội cố ý truyền HIV cho người khác điều 118 – BLHS”.
  • Làm nạn nhân chết hoặc tự sát: Được hiểu hành vi hiếp dâm là nguyên nhân làm cho nạn nhân tự tước đoạt quyền sống xủa mình (do khổ nhục, xấy hổ…. nên tự sát).

Ngoài ra, Điều luật quy định hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệu chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến 5 năm.

  • Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112 – BLHS)

Khoản 1 Điều 112 – BLHS quy định: “Người nào hiếp dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm”.

  1. Khách thể tội phạm – Thông qua sự xâm phạm nhân phẩm danh dự con người, tội phạm này có khách thể trực tiếp là sự phát triển lành mạnh cả về thể chất và tinh thần của trẻ em.

Đối tượng tác động của tội phạm là trẻ em gái dưới 16 tuổi.

  1. Mặt khách quan của tội phạm – Tội phạm được thể hiện ở hành vi dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác để giao cấu trái ý muốn với trẻ em.

Dùng vũ lực là dùng sức mạnh vật chất tác động lên thân thể của trẻ em như: đánh, đấm, vật ngã, trói,… nhằm đè bẹp sự kháng cự của trẻ em để thực hiện hành vi giao cấu

Dùng thủ đọa khác: Đe dọa dùng vũ lực, uy hiếp tinh thần, dọa nạt, dùng thuốc mê… làm cho trẻ em khiếp sợ và phải giao cấu trái với ý muốn của mình

Hành vi khách quan của tội phạm này tương tự như hành vi khách quan của tội hiếp dâm được quy định tại Điều 111 – BLHS.

Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi đều phạm tội hiếp dâm trẻ em không kể có sự đồng ý hay không đồng ý của nạn nhân.

Tội phạm hoàn thành từ thời điểm có hành vi giao cấu trẻ em, không cần việc giao cấu phải kết thúc về mặt sinh lý.

  1. Mặt chủ quan của tội phạm – Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý trực tiếp
  2. Chủ thể của tội phạm – Tội phạm được thực hiện bởi người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo quy định và phải là nam giới, nữ giới chỉ giữ vai trò dồng phạm (người tổ chức, xúi giục hoặc giúp sức).
  3. Hình phạt – Trong khoản 1 (cấu thành cơ bản) quy định phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm (nạn nhân từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi); khoản 4 quy định mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi là phạm tội hiếp dâm trẻ em với khu hình phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Trong khoản 2 (cấu thành tăng nặng) quy định hình phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm cho các trường hợp phạm tội sau: (xem giải thích trong tội hiếp dâm)

  • Có tính chất loạn luân
  • Làm nạn nhân có thai
  • Gây tổn hại sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%
  • Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh
  • Tái phạm nguy hiểm

Trong khoản 3 (cấu thành đặc biệt tăng nặng) quy định hình phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình cho các trường hợp phạm tội sau:

  • Có tổ chức
  • Nhiều người hiếp dâm một người
  • Phạm tội nhiều lần
  • Đối với nhiều người
  • Gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên
  • Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội
  • Làm nạn nhân chết hoặc tự sát

Ngoài ra, Điều luật còn quy định hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

  • Tội cưỡng dâm (Điều 113 – BLHS).

Khoản 1 Điều 113 – BLHS quy định: “Người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn báy phải miễng cưỡng giao cấu thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm”.

  1. Khách thể của ội phạm – Tội cưỡng dâm xâm phạm vào nhân phẩm, danh dự của con người, xâm phạm vào quyền tự do tình dục của người phụ nữ.
  2. Mặt khách quan của tội phạm – Tội phạm được thực hiện ở hành vi dùng mọi thủ đoạn khiến người bị lệ thuộc hoặc người ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu.

Nạn nhân của tội phạm này là người bị lệ thuộc. Sự lệ thuộc của nạn nhân có thể là vật chất, về công tác, về xã hội, về tín ngưỡng, tôn giáo …. tức là người phạm tội phải có quyền hành nhất định với người bị lệ thuộc

Ví dụ: A là thủ trưởng đã buộc chị B phải cho giao cấu nếu không trong đợt giảm biên chế của cơ quan sắp tới, A sẽ cho B nghỉ việc. Chị B buộc phải đồng ý trước đề nghị của A.

Người bị lệ thuộc đang ở trong trạng thái quẫn bách tức là đang ở trong tình trạng rất khó khăn mà tự mình khó có thể khắc phục đươc, đòi hỏi phải có sự hỗ trợ, giúp đõ như thiếu tiền, thiếu thuốc chữa bệnh hiểm nghèo… người rơi vào trong tình trạng này không còn sự sáng suốt lựa chọn một xử sự bình thường như người khác, hoặc như lúc bình thường khác.

Iễn cưỡng giao cấu là trường hợp lệ thuộc cho người phạm tội giao cấu vì không còn con đường nào khác để khắc phục những khó khăn đang gặp phải, mặc dù người đó không muốn điều đó. Khái niệm giao giao cấu tương tự như giao cấu trong tội hiếp dâm (Điều 111).

Hành vi dùng mọi thủ đoạn nói trong Điều luật được thể hiện như gây khó khăn cho nạn nhân, khống chế tư tưởng bằng các hình thức đe dọa hoặc hứa hẹn…. buộc họ phải miễn cưỡng giao cấu. Hành vi đe dọa của tội phạm chưa đến mức làm tê liệt ý chí phản kháng của nạn nhân tức là nạn nhân vẫn còn có một khảng thời gian để đối phó và lựa chọn phương pháp xử sự. Đây chính là điểm khác nhau giữa tội hiếp dâm và tội cưỡng dâm. Ở tội hiếp dâm, thủ đoạn của tội phạm làm cho nạn nhân không thể kháng cự được, nên buộc phải để tội phạm giao cấu trái ý muốn của mình. Còn ở tội cưỡng dâm thì thủ đọa của người phạm tội lại khiến người bị hại phải miễn cưỡng giao cấu, tức là vẫn còn một khoảng thời gian để kháng cự, lựa chọn cách xử lý. Nạn nhân không thể kháng cự được, nên buộc phải để tội phạm giao cấu trái ý muốn của mình. CÒn ở tội cưỡng dâm thì thủ đoạn của người phạm tội lại khiến cho người bị hại phải miễn cưỡng giao cấu, tứ là vẫn còn một khoảng thời gian để kháng cự, lựa chọn cách xử lý. Nạn nhân của tội cưỡng dâm tuy miên cưỡng nhưng việc giao cấu lại là tự nguyện.

Tội phạm được hoàn thành từ lúc người lệ thuộc nói trên miễn cưỡng cho giao cấu.

  1. Mặt chủ quan của tội phạm – Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý trực tiếp.
  2. Chủ thể của tội phạm – Tội phạm được thực hiện do người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo luật quy định. Thực tế cho thấy chủ thể của tội cưỡng dâm chỉ có thể là nam giới nếu có nữ giới tham gia chỉ giữ vai trò đồng phạm
  3. Hình phạt – Trong khoản 1 (cấu thành cơ bản) quy định phạt tù từ 6 tháng đến năm năm (nạn nhân là người từ đủ 18 tuổi trở lên); Khoản 4 quy định hình phạt tù từ hai năm đến bảy năm (nạn nhân là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi).

Trong khoản 2 (cấu thành tăng nặng) quy định hình phạt tù từ ba năm đến mười năm cho các trường hợp phạm tội sau: (xem giải thích tương tự như phần phân tích trong tội hiếp dâm)

  • Cưỡng dâm trẻ em (Điều 114 – BLHS)

Khoản 1 Điều 114 – BLHS quy định: “Người nào cưỡng dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm”.

  1. Khách thể của tội phạm – Tội phạm xâm phạm vào nhân phẩm, danh sự và sự phát triển bình thường về tâm, sinh lý và thể chất của người chưa thành niên là trẻ em.

Đối tượng tác động của tội phạm và trẻ em, trẻ em nói trong Điều luật là người có độ tuổi từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.

  1. Mặt khách quan của tội phạm – Hành vi của tội phạm này tương tự hành vi của tội cưỡng dâm (Điều 113). Tức là hành vi dùng mọi thủ đọa khiến người khác lệ thuộc, hoặc người trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu – ở đây, nạn nhân là người có độ tuổi từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi… (xem mặt khách quan của tội cững dâm Điều 113 – BLHS)
  2. Mặt chủ quan của tội phạm – Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý trực tiếp
  3. Chủ thể của tội phạm – Tội phạm được thực hiện bởi người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo luật định.
  4. Hình phạt – Trong khoản 1 (cấu thành cơ bản) quy định khung hình phạt từ đủ năm năm đến mười năm

Trong khoản 3 (cấu thành đặc biệt tăng nặng) quy định khung hình phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân cho các trượng hợp phạm tội theo luật định

  • Tội giao cấu với trẻ em (Điều 115 – BLHS)

Khoản 1 Điều 115 – BLHS quy định: “Người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm”.

  1. Mặt khách thể của tội phạm – Tội phạm xâm phạm vào sự phát triển bình thường về thể chất và tâm sinh lý của người chưa thành niên, xâm phạm vào danh sự nhân phẩm của con người.

Đối tượng tác động của tội phạm này là người có độ tuổi từ đủ mười ba tuổi đến chưa đủ 16 tuổi (nam hoặc nữ)

  1. Mặt khách quan của tội phạm – Tội phạm được thể hiện ở hành vi giao cấu với người từ đủ 13 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi.

Nếu giao cấu với người dưới 13 tuổi thì phạm tội hiếp dâm trẻ em Điều 112 – BLHS

Hành vi giao cấu nói trong Điều luật là được sự đồng ý thuận tình của nạn nhân. Người phạm tội có thể bằng các thủ đoạn khác nhau như: Lừa phỉnh, lôi kéo… để nạn nhân đồng ý giao cấu với người phạm tội.

Tội phạm hoàn thành khi người phạm tội có hành vi giao cấu với nạn nhân

  1. Mặt chủ quan của tội phạm – Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi có ý trực tiếp. Người phạm tội phải nhận thức được nạn nhân là người dưới 16 tuổi
  2. Chủ thể của tội phạm – Tội phạm được thực hiện do người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi từ 18 tuổi trở lên (dấu hiệu chủ thể đặc biệt – độ tuổi)
  3. Hình phạt – Trong khoản 1 (cấu thành cơ bản) quy định khung hình phạt tù từ 1 năm đến 5 năm

Trong khoản 2 (cấu thành tăng nặng) quy định khung hình phạt tù từ 3 năm đến 10 năm cho các trường hợp phạm tội.

Trong khoản 3 (cấu thành đặc biệt tăng nặng) quy định khung hình phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm cho các trường hợp phạm tội.

  • Tội dâm ô đối với trẻ em (Điều 116 – BLHS)

Khoản 1 Điều 116 – BLHS quy định: “Người nào đã thành niên mà có hành vi dâm ô đối với trẻ em, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.

  1. Khách thể của tội phạm – Tội phạm xâm phạm vào sự phát triển bình thường về thể chất và sinh lý của trẻ em, xâm phạm vào danh dự nhân phẩm của con người.

Đối tượng tác động của tội phạm là trẻ em ở độ tuổi chưa đủ 16 tuổi tròn.

  1. Mặt khách quan của tội phạm – Hành vi khách quan của tội phạm được thể hiện ở các loại sau:

Trực tiếp có những hành vi tác động lên thân thể, bộ phận cơ thể của trẻ em bằng các cách thức, hình thức nhằm thỏa mãn dục vọng

Bằng các thủ đoạn khác nhau: dụ dỗ, lừa phỉnh, ép buộc, mua chuộc,… để trẻ em có những hành vi tác động lên thân thể hoặc bộ phận cơ thể của người phạm tội dưới mọi hình thức nhằm thỏa mãn dục vọng

Bằng các thủ đọa như dụ dỗ, lừa phỉnh, mua chuộc, ép buộc,… để các trẻ em có những hành vi dâm ô, tác động lẫn nhau để “chứng kiến” nhằm thỏa mãn dục vọng.

Các loại hành vi kể trên đều mang tính chất dâm ô, trái đạo lý, luân lý (nhưng không có tình tiết giao cấu) với mục đích thỏa mãn dục vọng thấp hèn của người phạm tội. Đây là điểm để phân biệt tội phạm này với các loại tội phạm khác như: Tội hiếp dâm, tội cưỡng dâm, tội giao cấu với trẻ em, tội mua dâm người chưa thành niên.

Nếu sau khi có hành vi dâm ô đối với trẻ em, người phạm tội lại có hành vi giao cấu thì tùy từng trường hợp cụ thể để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tương ứng chứ không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội dâm ô.

Hậu quả của tội phạm không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm. Hậu quả nghuy hiểm cho xã hộ xảy ra là tình tiết định khung trong các cấu thành tăng nặng.

Tội phạm hoàn thành khi người phạm tội thực hiện một trong hài vi nêu trên.

  1. Mặt chủ quan của tội phạm – Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý
  2. Chủ thể của tội phạm – Tội phạm do người có đủ trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi từ 18 tuổi trở lên (dấu hiệu chủ thể đặc biệt – độ tuổi).
  3. Hình phạt – Trong khoản 1 (cấu thành cơ bản) quy định hình phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Trong khoản 2 (cấu thành tăng nặng) quy định hình phạt tù từ ba năm đến bảy năm cho các trường hợp phạm tội.

Trong khoản 3 quy định: Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười hai năm.

Ngoài ra, Điều luật còn quy định hình phạt bổ sung. Người phạm tội có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

  • Tội làm nhục người khác (Điều 121 – BLHS)

Khoản 1 Điều 121 – BLHS quy định: “ Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm”.

  1. Khách thể của tội phạm – Tội làm nhục người khác xâm phạm vào danh dự, nhân phẩm của công dân
  2. Mặt khách quan của tội phạm – Tội này được thể hiện ở hành vi xúc phạm nghiêm trọng vào nhân phẩm, danh dự của công dân

Xúc phạm nghiêm trọng là bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của công dân, làm cho họ mât uy tín với mọi người xung quanh, với người cùng công tác hoặc với những người thân trong gia đình…

Biểu hiện cụ thể của hành vi này có thể bằng lời nói, như chửi bới, lăng mại, xỉ nhục người khác ở chỗ đông người bằng chữ viết, vẽ hình lăng mạ nơi có nhiều người qua lại… hay bằng các hành động như lột quần áo, nhổ vào mặt, bôi bẩn vào mặt, xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của người khác. Sự xúc phạm phải ở mức độ nghiêm trọng thì mới truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc xác định mức độ nghiêm trọng cũng là vấn đề khá phức tạp. Bởi vì cùng một hành vi xâm phạm như nhau, có người nghĩ là bị nhực hoặc rất nhục, nhưng có người nghĩ là bình thường, không bị nhụ. Vì vậy, việc xác định mức độ nghiêm trọng phải kết hợp với các yếu tố khác nhau như: Trình độ nhận thức, mối quan hệ gia đình và xã hội, phong tục tập quán, truyền thống gia đình, nơi công tác, địa vị xã hội… Dư luận xã hội trong trường hợp này cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định nhân phẩm danh dự của người bị xâm phạm tới mức nào và có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định hành vi phạm tội của người có hành vi làm nhục.

Xác định mức độ nghiêm trọng tùy thuộc vào hành vi cụ thể của người phạm tội. Thông thường hành vi phạm tội làm nhục người khác thể hiện ở các hành vi nói trên, nhưng ở mức độ rất quá đáng, quá quắt.

Ví dụ: A muốn lấy chị B làm vợ nhưng bị chị B từ chối A đã tìm cách làm nhục chị B. A đã chửi bới, lang mạ chị b và lấy phân tươi ném vào mặt chi B ở giữa chợ.

Tội phạm hoàn thành khi người phạm tội có hành vi xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của người khác

  1. Mặt chủ quan của tội phạm – Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý trực tiếp. Vì mục đích trả thù cá nhân hoặc động cơ mục đích khác nhưng không phải dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm.
  2. Chủ thể của tội phạm – Tội phậm được thực hiện bởi người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi từ 16 trở lên.
  3. Hình phạt – Trong khoản 1 (cấu thành cơ bản) quy định hình phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Trong khoản 2 (cấu thành tăng nặng) quy định hình phạt tù từ một năm đến ba năm cho các trường hợp phạm tội theo Điều này.

Ngoài ra, Điều luật còn quy định hình phạt bổ sung: người phạm tội còn có thể cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một đến năm năm.

  • Tội vu Khống (Điều 122 – BLHS)

Khoản 1 Điều 122 BLHS quy định: “ Người nào bịa đặt loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm đến danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm”.

  1. Khách thể của tội phạm – Tội vu khống xâm phạm vào danh sự, nhân phẩm của công dân.
  2. Mặt khách quan của tội phạm – Tôi vu khống là hành vi bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ với cơ quan có thẩm quyền.

Tội phạm này được thể hiện ở các hành vi sau:

  • Bịa đặt hoặc loan truyền tin biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền lợi của người khác.

Bịa đặt là tự mình “sáng tác” ra những tin tức, câu chuyện sự việc không có thật để xúc phạm danh dự người khác.

  • Loan truyền tin biết rõ là bịa đặt tức là biết rõ những tin tức, câu chuyện, sự việc là không có thật (tin bịa đặt đó do họ, do người họ biết hoặc không biết ai bịa đặt), nhưng vẫn phao tin làm trung gian, thông tin đến người khác làm cho đối tượng nhận thông tin tưởng là thật, việc loan truyền có thể bắc các thứ ngôn ngữ (lời nói, chữ viết…) hoắc các hình thức khác nhau như: sao chép làm nhiều bản gửi đi nhiều nơi, kể lại cho người khác nghe, đăng tin bài trên các phương tiện thông tin đại chúng… người loan truyền phải biết rõ điều mình loan truyền là tin bịa đặt, không có thực, nếu họ còn bán tín bán nghi thì cũng chưa cấu thành tội vu khống.
  • Bịa đặt người khác phạm tội, là tự mình nghĩ ra cho người khác phạm một tội được quy định trong Luật hình sự, sau đó tố cáo bằng các hình thức khác nhau sự việc nói trên cho bất kỳ một cơ quan Nhà nước nào như trực tiếp tố cáo, viết thư, làm đơn tố cáo, gọi điện thoại, qua hòm thư góp ý, hòm thư tố giác tội phạm… để tố cáo người khác phạm tội mặc dù họ biết sự việc tố cáo là không có thật.

Tất cả  những hành vi bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt hoắc tố cáo sai người khác phạm tội với các cơ quan Nhà nước đều nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền của người bị hại (không kể thiệt hại đã xảy ra hay chưa). Thiệt hại có thể là bị mất uy tín, không được đi học, bị đình chỉ công tác để điều tra, thuyên chuyển công tác khác…

Hậu quả của tội phạm không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm để xác định tội phạm này cần làm rõ hành vi khách quan kể trên phảm nhằm vào một đối tượng cụ thể, con người cụ thể. Nếu hành vi nhằm vào một cơ quan, tổ chức xã hội hoặc nhóm người thì không cấu thành tội phạm này mà được xem xét ở một tội phạm khác của Bộ luật Hình sự.

  1. Mặt chủ quan của tội phạm – Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
  2. Chủ thể của tội phạm – Tội phạm được thực hiện bởi người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo luật định
  3. Hình phạt – Trong khoản 1 (cấu thành cơ bản) quy định hình phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Trong khoản 2 (cấu thành tăng nặng) trong quy định hình phạt tù từ một năm đến bảy năm cho các trường hợp phạm tội theo quy định luật

Ngoải ra, Điều luật quy định hình phạt bổ sung: người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 1 triệu đống đến 10 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm.

  • Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 123 – BLHS)

Khoản 1 Điều 123 – BLHS quy định: “Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm”.

  1. Khách thể của tội phạm – Tội bắt giữ hoặc giam người trái pháp luật xâm phạm vào quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân.

Quyền bất khả xâm phạm về thân thể là một trong những quyền tự do cá nhân quan trọng nhất trong cuộc sống của công dân. Chính vì vậy trong Điều 71 Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam quy định: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm không ai có thể bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật”. Vấn đề bắt, giữ hoặc giam người được Bộ luạt tố tụng hình sự quy định rất chặt chẽ về thẩm quyền, căn cứ và trình tự, thủ tục. Điều đó càng nói lên tầm quan trọng của việc đảm bảo quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân. Cho nên, xâm phạm vào quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân cần phải bị nghiêm trị.

  1. Mặt khách quan của tội phạm – Về mặt khách quan, điều luật quy định ba tội tướng ứng với ba hành vi sau đây:
  • Hành vi bắt người trái pháp luật
  • Hành vi giữ người trái pháp luật
  • Hành vi giam người trái pháp luật

Các hành vi này đều là hành vi xâm phạm quyền tự do thân thể của người khác nhưng khác nhau ở hình thức thể hiện.

Tính pháp luật nói trong điều luật là không đúng về thểm quyền, không có căn cứ, không theo trình tự thủ tục mà pháp luật quy định trong việc bắt, giữ hoặc giam người. Theo các Điều 62,63,64,68,70 của Bộ luật tố tụng hình sự quy định thì việc vắt giữ người phải có lệnh của cơ quan có thẩm quyền (cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) trừ trường hợp phạm tội quả tang hoắc bắt người đang có lệnh truy nã. Khi tiến hành bắt, giữ, giam người phải có căn cứ, theo đúng trình tự, thủ tục. Như vậy, để xác định có hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật hay không, cần phải đối chiếu với các quy định của Luật tố tụng hình sự về việc bắt, giữ hoặc giam người để xác định sai phạm ở khâu nào mà định tội danh cho sát. Tuy nhiên, hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật rất đa dạng và mức độ nguy hiểm cho xã hội cũng ở mức độ khác nhau nên không phải tất cả các hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật đề xử lý về hình sự đối với các hành vi sau đây:

  • Người không có thẩm quyền mà bắt, giữ hoặc giam người (trừ trường hợp bắt người phạm tội quả tang hoặc người đang có lệnh truy nã)
  • Người tuy có thẩm quyền nhưng lại bắt, giữ hoặc giam người không có căn cứ theo quy định của pháp luật.

Còn đối với các hành vi băt, giữ hoặc giam người tuy là trái pháp luật nhưng xét thấy tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi không đáng kể thì không xử lý về hình sự mà xử lý bằng các biện pháp khác (như đúng về nội dung, thẩm quyền, đủ căn cứ, chỉ sai về thủ tục như trường hợp bắt người vào ban đêm mà không phải trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội qua tang hay tuy có lệnh bắt nhưng không đọc lệnh khi bắt….) hoặc hành vi giữ người theo thủ tục hành chính mà không có quyết định bằng văn bản.

Thời điểm hoàn thành của tội phạm đối với người có thẩm quyền bắt, giữ hoặc giam người nhưng lại bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là thời điểm lệnh đã được ký và có đóng dấu. Đối với người không có thẩm quyền, thời điểm hoàn thành của tội phạm là thời điểm hoàn thành việc thực hiện hành vi bắt, giữ hoặc giam người.

Thủ đọa bắt giữ không ảnh hưởng đến việc định tội: có thể là dùng sức mạnh về vật chất như trói, nhốt vào thùng xe…. hoặc bạo lực về mặt tinh thần nhe đe dọa bắn nếu không thể ho bắt hoặc dùng lệnh thật hoặc lệnh giả của cơ quan Nhà nước, cũng có thể mời đến trụ sở rồi giữ lại…

Cùng với hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật thì tùy từng trường hợp có thể xử lý thêm về các tội khác nếu có như Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoe của người khác hay tội dùng nhục hình.

Khi xem xét hành vi giam, giữ người trái pháp luật cần phân biệt hành vi giam giữ người trái pháp luật quy định trong tội này với hành vi gĩ người trái pháp luật của tội lợi dụng chức vụ quyền hại giam, giữ người phát pháp luất tại điều 303 – BLHS. Hành vi giam giữ người trái pháp luật quy định tại Điều 303 – BLHS là hành vi không quyết định trả tự do cho người được trả tự do. Ngoài hai hành vi này, các hành vi giam giữ người trái pháp luật khác đều phải xử lý theo Điều 123 – BLHS.

Trong trường hợp bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản thì hành vi bắt đó cũng xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân nhưng được coi là một thủ đoạn để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và xử lý theo điều 134 – BLHS, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản mà không xử lý về tội này.

Tội phạm hoàn thành khi người phạm tội thực hiện những hành vi khách quan nêu trên.

  1. Mặt chủ quan của tội phạm – Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý. Động cơ, mục đích phạm tội rất đa dạng, có thể do tư thù, do hống hách, do muốn có thành tích… Nhưng dấu hiệu động cơ, mục đích phạm tội không phải dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm này.
  2. Chủ thể tội phạm – Tội phạm này được thực hiện bởi bất kỳ người nào cớ đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo Luật hình sự quy định. Dấu hiệu này cũng cho ta thấy sự khác nha về chủ thể của tội này với tợi lợi dụng chức vụ quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật (Điều 303 – BLHS) chỉ là Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Giám thị và nhân viên nhà gạm giữ, trại tạm giam, trại giam.
  3. Hình phạt – Trong khoản 1 (cấu thành cơ bản) quy định hình phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm

Trong khoản 2 (cấu thành tăng nặng) quy định hình phạt tù từ một năm đến năm năm khi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Phạm tội có tổ chức: Đây là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ và mang tính bền vững giữa những người cùng thực hiện việc bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật như hành vi của băng nhóm côn đồ luôn bắt người để xiết nợ thuê hoặc dòi hỏi các yêu sách đối với thân nhân của nạn nhân. Đây là ột hình thức đồng phạm có tính nguy hiểm cao, chúng thường dùng việc bắt giam giữ người trái pháp luật để thực hiện lợi ích của chúng. Tuy nhiên, không được quan niệm mọi vụ bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật có nhiều người tham gia đều là có tổ chức.
  • Lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội: Lợi dụng chức vụ quyền hạn được hiểu là người có chức vụ quyền hạn và có thểm quyền trong việc bắt, giữ hoặc giam người đã lợi dụng chức vụ quyền hạn được giao để thực hiện hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật. Trường hợp có chức vụ quyền hạn nhưng không có thẩm quyền trong việc bắt, giam, giữ thì xử lý theo khoản 1.
  • Phạm tội đối với người đang thi hành cộng vụ: Là việc bắt, giữ hoặc giam người đang thi hành nhiệm vụ Nhà nước giao, nhằm cản trở hoặc đe dọa không cho họ thực hiện nhiệm vụ như: bắt, giữ hoặc giam người được cử về đẻ giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp giữa hai làng, để tiến hành thanh tra, kiểm tra, để điều tra tội phạm….
  • Phạm tội nhiều lần tức là từ 2 lần trở lên phạm tội này và chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự: còn nếu trước đó người phạm tội phạm vào một tội khác thì không xác định là phạm tội nhiều lần
  • Phạm tội đối với nhiều người là phạm tội đới với từ hai người trở lên.

Trong khoản 3 (cấu thành đặc biệt tăng nặng) quy dịnh hình phạt tù từ 3 năm đến 10 năm khi gây hậu quả nghiêm trọng.

Hậu quả nghiêm trọng được hiểu là gây thiệt hại về tinh thần, vật chất cho người bị hại hoặc gia đình họ, ảnh hưởng xấy về mặt xã hội. Như người bị bắt, giữ, giam trái pháp luật uất ức mà tự sát hoặc do bị giam giữ lâu ngày mà mắc bệnh nặng, làm gia đình ly tán. Gây thiệt hại về vật chất như: người bị giam, giữ lâu ngày là lao động chính nuôi sống gia đình làm cho kinh tế gia đình lâm vào tình trạng đặc biệt khó khăn; làm cho dư luận quần chúng căm phẫn, ảnh hưởng đến uy tính của Nhà nước…

Trong khoản 4: Quy định hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 1 năm đến 5 năm đối với người phạm tội sau khi đã chấp hành xong hình phạt chính.

  • Tội xâm phạm chỗ ở của công dân (Điều 124 – BLHS)

Khoản 1 Điều 124 – BLHS quy định: “ Người nào khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác, đuổi trái pháp luật ngwoif khác khỏi chỗ ở của họ hoặc có những hành vi trái pháp luật khác xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm”.

  1. Khách thể của tội phạm – Tội này xâm phạm vào quyền bất khả xâm phạm chỗ ở của công dân

Chỗ ở của công dân được hiểu là nơi đang có người cư trú hợp pháp. Nơi cư trú hợp pháp có thể là nơi ở thường xuyên, có thể là nươi cứ trú trong một thời gian nhất định như nhà thuên, phòng ở khách sạn…, có thể là nơn đăng ký hộ khẩu hoặc nơi tạm trú, có thể là nơi ở cố định hoặc nơi ở di động (như tàu, thuyền). CHỗ ở có thể là một tòa nhà hay một căn buồng, căn phòng hoặc một phần của căn phòng.

Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, nơi sinh sống của công dân cũng là một quyền rất cần thiết cho tự do cá nhân của công dân. Chính vì vậy, quyền này cũng được Hiến pháp đảm bảo. Điều 73 Hiến pháp năm 1992 nước cộng hòa xã…. quy định: “ Công dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép…”

Trường hợp pháp luật cho phép vào chỗ ở của người khác không cần được sự đồng ý của chủ nhà như: Kiểm tra điện phòng cháy chữa cháy, vệ sinh phòng bệnh hoắc các trường hợp khám xét trong điều tra hình sự được quy định tại Điều 118 – LTTHS

Nhằm đảm bảo quyền này một cách triệt để hơn, điều 124 BLHS quy định tội này với các hành vi cụ thể xâm phạm đến chỗ ở của công dân.

  1. Mặt khách quan của tội phạm – Tội xâm phạm chỗ ở của công dân được thể hiện ở các loại hành vi sau đây:

Khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác: Tự ý vào chỗ của một người hoặc một hộ gia đình cư trú, nghỉ ngơi, sinh hoạt khám xét nhằm tìm kiếm chứng cứ, đồ vật, tài sản… mà không có lệnh của cơ quan có thẩm quyền không tuân thủ thủ tục do pháp luật quy định trong việc khám xét chỗ ở hoặc có lệnh của người có thẩm quyền nhưng lại không có căn cứ để khám xét theo quy định của pháp luật.

Như vậy, trái pháp luật là không tuân thủ quy định của LTTHS khi khám xét chỗ ở người khác. Tuy nhiên hành vi khám xét trái pháp luật thể hiện ở nhiều dạng khác nhau, mức độ nguy hiểm cho xã hội cũng khác nhau, cho nên không phải cứ có hành vi khám xét trái pháp luật là tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự mà chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự trong các trường hợp khám xét trái pháp luật sau đây:

  • Người không có thẩm quyền mà khám xét chỗ ở của công dân
  • Người tuy có thẩm quyền nhưng lại khám xét chỗ ở của công dân không có căn cứ theo quy định của pháp luật

Đối với các hành vi khám xét chỗ ở của Cảnh sát nhân dân tuy là trái pháp luật nhưng xét thấy tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không xử lý về hình sự mà xử lý bằng biện pháp khác ( như đúng về nội dung, thẩm quyền, đủ căn cứ chỉ sai về thủ tục, như lệnh khám xét chưa được Viện Kiểm sát phê chuẩn, thi hành lệnh khám vào ban đêm mà không phải là trường hợp không thể trì hoãn (kể cả khám xét hình sự và khám xét hành chính) hoặc khám không có người láng giềng và chính quyền chứng kiến…

Đối với hành vi này, thời điểm hoàn thành của tội phạm được xác định như sau:

  • Nếu là người có thẩm quyền thì thời điểm hoàn thành là thời điểm lệnh khám xét được ký và có đóng dấu
  • Nếu người không có thẩm quyền thì thời điểm hoàn thành của tội phạm là thời điểm hành vi khám xét được thược hiện

Hành vi đuổi trái pháp luật người khác ra khỏi chở ở của họ: là hành vi dùng bạo lực đuổi một người hoặc một hộ gia đình phải rời khỏi chỗ ở của họ mà không có quyết định hợp pháp của các cơ quan có thểm quyền như: Quyết định của UBND cấp Quận, huyện trở lên…. của cơ quan Tòa án khi có quyết định thi hành án liên quan đến chỗ ở…

Ví du: Hành vi của anh em nhà chồng đã đuổi vợ và con ra khỏi nhà đang ở sau khi chồng chết.

Đối với hành vi nay, thời điểm hoàn thành của tội phạm và thời điểm hành vi đuổi trái pháp luật đó được thực hiện.

Các hành vi khác trái pháp luật xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân như: tự ý mở khóa vào ở trong nhà của công dân khi họ đi vắng, lấn chiếm chỗ ở của công dân, đ dọa đuổi người khác khỏi chỗ ở của họ… đuổi trái pháp luật người đang thuê nhà họ chưa tìm được nơi thuê mới… Đối với các hành vi này, tội phạm hoàn thành khi các hành vi đó được thực hiện.

Trong trường hợp dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa dối… để hiếm đoạt chỗ ở của người khác thì phạm các tội xâm phạm sở hữu.

Nếu xâm phạm chỗ ở của Nhà nước quản lý mà chưa phân cho ai thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm các quy định về quản lý nhà ở (Điều 270 – BLHS).

  1. Mặt chủ quan của tội phạm – Tội phạm này được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý. ĐỘng cơ mục đích phạm tội rât đa dạng: có thể tư thù, do hống hách, do muốn chiếm chỗ ở tốt hơn… Nhưng không phải là dấu biệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm này.
  2. Chủ thể của tội phạm – Tội phạm được thực hiện bởi bất kỳ người nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo Luật hình sự quy định
  3. Hình phạt – Trong khoản 1 (cấu thành cơ bản) quy định hình phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Trong khoản 2 9caaus thành tăng nặng) quy định hình phạt tù từ một năm đến ba năm nếu phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây:

  • Có tổ chức: Đây là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ và mang tính bền vững giữa những người cùng thực hiện việc xâm phạm chỗ ở của công dân. Đây là một hình thức đồng phạm xó tính nguy hiểm cao. Chúng coi việc xâm phạm chỗ ở của người khác là bình thường, là cách thức trấn áp mọi người. Tuy nhiên, không ddowcj quan niệm mọi vụ bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật cuos nhiều người tham gia đều là có tổ chức.
  • Lợi dụng chức vụ quyền hạn: Được hiểu là ngwoif có chức vụ, quyền hạn và có thẩm quyền trong việc khám xét chỗ ở của công dân đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để phạm tội. Còn các trường hợp khác, mặc dù có chức vụ, quyền hạn nhưng không phải trong việc khám xét chỗ ở của công dân thì không coi là trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn mày xử lý theo khoản 1.
  • Gây hậu quả nghiêm trọng: Được hiểu là việc xâm phạm chỗ ở của công dân đã dẫn đến thiệt hại lới về vật chất, về tinh thần cho người đó hoặc dân đến hậu quả đạt biệt xấy về chính trị như làm cho dư luận quần chúng căm phẫn, ảnh hưởng đến uy tín của Nhà nước, của chế độ…

Trong khoản 3 quy định hình phạt bổ sung: cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến 5 năm cho người phạm tội.

  • Tội cướp tài sản (Điều 133 – BLHS)

Khoản 1 Điều 133 – BLHS quy định: “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự dược nhằm chiếm đọa tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm”

  1. Khách thể của tội phạm – Tội phạm cướp tài sản xâm phạm vào quyền sở hữu đối với tài sản, ngoài ra còn xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm vào tính mạng, sức khỏe của công dân.
  2. Mặt khách quan của tội phạm – Hành vi khách quan của tội phạm được thể hiện ở các hành vi sau:

Dùng vũ lực đối với người chủ tài sản, người quản lý tài sản hoặc đối với bát kỳ người nào khác ngăn cản việc chiếm đoạt của người phạm tội nhằm đè bẹp sự phản kháng, làm tê liệt ý chí của nạn nhân để chiếm đoạt tài sản. Dùng vũ lực là dùng sức mạnh vật chất tấn công người quản lý tài sản như đấm, đá, trói… dùng vũ lực trong hành vi cướp thường kèm theo sử dụng các công cụ, phương tiện như dao, súng, gậy,…

Đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc: Biểu hiện hành vi tức khắc dùng sức mạnh vật chất có thể được thể hiện bằng lời nói, cử chỉ hành động đe dọa sẽ tấn công người quản lý tài sản hoặc những người khác nếu không đáp ứng yêu cầu hoặc có ý định ngăn cản hành vi chiếm đoạt tài sản của người phạm tội. Tức khắc ở đây được hiểu là sự kế tiếp về mặt thời gian.

Hành vi đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực thực chất cũng đã là hành vi đè bẹp làm tê liệt ý chí của nạn nhân. Để đánh giá chính xác người phạm tội có sử dụng tức khắc hay không, cần dựa vào thái độ, cử chỉ, hành động cũng như cường độ, sự mãnh liệt của lời đe dọa. Tuy nhiên, để đánh giá tính chất tức khắc của lời đe dọa, chúng ta cần xem xét cụ thể một số yếu tố như: công cụ phương tiện, cách thức sử dụng; sự tương quan lực lượng giữa bên đe dọa và nạn nhân, hoàn cảnh, thời gian không gian nơi xảy ra sự việc… Nếu hành vi đe dọa dùng vũ lực nhưng không xảy ra ngay tức khắc thì không phạm tội cướp tài sản mà phạm tội cưỡng đoạt tài sản.

Hành vi khác làm cho người bị tấn công làm cho lâm vào tình trạng không thể chống cự được để chiếm đoạt tài sản. Tình tiết khẳng định người phạm tội không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, xong bằng mọi cách thức thủ đoạn, người phạm tội đã đưa nạn nhân vào một tình trạng không còn khả năng quản lý được tài sản và người phạm tội không bị một trở ngại nào trong việc thực hiện hành vi chiếm đoạt. Nhưng là việc dùng ê te, chất độc dược hoặc các loại thuốc ngủ đầu độc nạn nhân; nhốt nạn nhân vào nói thiếu không khí gây nguy hiểm đến tính mạng sức khỏe; dùng dây chằng quan đường làm nạn nhân vấp ngã để cưới tài sản…

Tời điểm hoàn thành của tội cướp tài sản được tính từ khi có một trong các hành vi nói trên. Tội phạm chỉ có ý nghĩa cho việc áp dụng lượng hình khi xác định các cấu thành tăng nặng của tội phạm.

Chú ý: nếu người phạm tội thực hiện hành vi cướp bằng cách giết người (giết – cướp) thì truy cứu trách nhiệm hình sự về hai tội là tội giết người (Điều 93 – BLHS) và tội cướp tài sản (Điều 133 – BLHS). Trường hợp người phạm tội cướp tài sản mà vô ý làm chết người thì chỉ xem xét hậu quả chết người là tình tiết định khung tăng nặng trong tội cướp tài sản.

  1. Mặt chủ quan của tội phạm – Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý trực tiếp, mục đích vụ lợi
  2. Chủ thể của tội phạm – Tội phạm được thực hiện bởi người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật quy định
  3. Hình phạt – Trong khoản 1 (cấu thành cơ bản) quy định hình phạt tù từ ba năm đến mười năm

Trong khoản 2 (cấu thành tăng nặng) quy định hình phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm cho các trường hợp phạm tội sau:

  • Có tổ chức: có tổ chức được biểu hiện là hình thức đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm
  • Có tính chất chuyên nghiệp: Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp được hiểu là coi hoạt động phạm tội như là một nghề nghiệp chính và lấy đó làm nguồn thu nhập chính
  • Tái phạm nguy hiểm: Là trường hợp bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội cướp hoặc đã tái phạm, chưa được xóa án tích lại phạm tội cướp.
  • Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác: Như dùng súng quân dụng, dao, bom, mìn…
  • Gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%
  • Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng
  • Gây hậu quả nghiêm trọng;

Trong khoản 3 (cấu thành đặc biệt tăng nặng) quy định hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm cho trường hợp phạm tội:

  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%
  • Chiếm đoạt tài dản ó giá trị từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng
  • Gây hậu quả rât nghiêm trọng

Trong khoản 4 quy định khung hình phạt tù từ 18 đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm chết người
  • Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 500 triệu trở lên
  • Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

Ngoài ra, Điều luật còn quy định bổ sung: Ngwoif phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 1 năm đến 5 năm.

  • Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134 – BLHS)

Khoản 1 Điều 134 – BLHS quy định: “người nào bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.

  1. Khách thể của tội phạm – Tội phạm xâm phạm đến quyền sở hữu đói với tài sản. Ngoài ra, còn xâm phạm đến quyền tự do dân chủ (quyền bất khả xâm phạm về thân thể) của công dân.
  2. Mặt khách quan của tội phạm – Hành vi khách quan của tội phạm được thể hiện ở hành vi bắt người làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản.

Hành vi bắc cóc là hành vi bắt giữ người trái phép bằng các thủ đoạn khác nhau. Nạn nhân bị bắt giữ là người có mối quan hệ với chủ sở hữu tài sản. Mối quan hệ này đa dạng có thể là hệ tình cảm gia đình thân thiết; ông bà, cha mẹ, cợ chồng, con hoặc có thể những quan hệ xã hội khác như bạn bè, cơ quan, tổ chức,…

Thủ đoạn thực hiện tooijj phạm là bắt cóc người làm con tin và thông tin, yêu cầu chủ sở hữu tài sản bằng các phương tiện khách nhau, trực tiếp hoặc qua trung gian buộc người chủ tài sản phải thỏa mãn yêu cầu vạt chất của kẻ phạm tội, nếu muốn bảo đảm tính mạng, sức khỏe cho người bị bắt cóc. Dấu hiệu “yêu sách” là bắt buộc trong cấu thành tội phạm; Nếu bắt cóc người nhằm vào các mục đích khác không cấu thành tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản mà tùy từng trường hợp sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự với các tội danh tương ứng.

Ví dụ: Bắt cóc người là phụ nữ để đem bán – Hành vi khách quan là của tội mua bán phụ nữ (Điều 119 – BLHS). Hoặc bắt cóc người nhằm mục đích chống chính quyền nhân dân thì phạm tội khủng bố (Điều 84 – BLHS). Bắt cóc người để giết lấy các bộ phận trên cơ thể nạn nhân, thì phạm tội giết người (Điều 93 – BLHS).

Tội phạm hoàn thành kể từ khi có hành vi bắt cóc người nhằm chiếm đoạt tài sản. Do tội phạm có cấu thành hình thức, cho nên hậu quả của tội phạm (người phạm tội có chiếm đoạt được tài sản hay không) không phải là dấu hiệu bắt buộc, chỉ có ý nghĩa xác định mức hình phạt trong các cấu thành tăng nặng.

Chú ý: Nếu hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản nhưng lại làm chết người hoặc gây thương tích cho nạn nhân thì tùy từng trường hợp cụ thể họ phải chịu trách nhiệm hình sự thêm về một tội tương ứng

Ví dụ: Tên A bắt cóc chị B nhằm yêu cầu gia đình chị B đem tiền đến chuộc, nhưng khi chị B bỏ chạy tên A đã dùng gậy đánh vào đầu chị B cho đến chết. Trong trường hợp này tên A phải chịu trách nhiệm hình sự tề tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản theo điều 134 – BLHS, và đồng thời còn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người theo Điều 93 – BLHS.

  1. Mặt chủ quan của tội phạm – Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý trực tiếp, mục đích vụ lợi. Động cơ phạm tội đa dạng không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm.
  2. Chủ thể của tội phạm – Tội phạm được thực hiện do bất kỳ người nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo quy định của luật định
  3. Hình phạt – theo quy định tại điều 134 – BLHS.
  • Cưỡng đoạt tài sản (Điều 135 – BLHS)

Khoản 1 Điều 135 – BLHS quy định: “người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thaanhf người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm”.

  1. Khách thể của tội phạm – Tội phạm xâm phạm vào quyền sở hữu đối với tài sản và nhân thân của người có trách nhiệm quản lý tài sản.
  2. Mặt khách quan của tội phạm – Tội cưỡng đoạt tài sản là hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc dùng các thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản của họ.

Hành vi khách quan của tội phạm được thể hiện:

  • Đe dọa sẽ dùng vũ lực để chiếm đoạt tài sản: Đe dọa gây thiệt hại về thể chất, vật chất cho người chủ tài sản nếu người đó không đáp ứng, không làm thỏa mãn yêu cầu về tài sản cho người phạm tội.

Việc đe dọa dùng vũ lực không dẫn đến việc dùng vũ lực ngay mà có khoảng thời gian nhất định để người bị đe dọa suy nghĩ, cân nhắc lựa chọn để quyết định cho hành động của mình (trao hay không trao tài sản). Đây là điểm khác nhau cơ bản của hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực trong tội cưỡng đoạt tài sản với hành vi đe dọa ngay tức khắc vũ lực trong tội cướp tài sản. Trong tội cướp tài sản người đe dọa không có sự lựa chọn, bị tê liệt ý chí và tê liệt sự phản kháng, họ sẽ bị tấn công “ tức khắc” bằng vũ lực nếu không thỏa mãn yêu cầu của người phạm tội.

Uy hiếp về tinh thần người chủ tài sản, là hành vi gây thiệt hại về mặt danh dự, uy tín, cụ thể có thể là dọa công bố bí mật đời tư mà người chủ tài sản muốn giấu kín, đe doạn hủy hoại tài sản… Bản chất, là một sự khủng bố về tinh thần buộc chủ sở hữu phải lựa chọn phương pháp xử sự có trao hay không trao tài sản cho người phạm tội.

Ví dụ: A chụ được ảnh chị B đang ngoại tình với người cùng cơ quan, A đã yêu cầu chị B nộp 50 triệu đồng, nếu không sẽ công bố với cơ quan và đưa ảnh cho chồng chị B xem….

Nhìn chung, thủ đoạn đe dọa sẽ dùng vũ lực và uy hiếp về tinh thaanhf chưa đến mức làm cho người có trách nhiệm quản lý tài sản tê liệt hoàn toàn ý chí và sự phản kháng, họ vẫn có sự lựa chọn, việc chấp nhận trao tài sản cho người phạm tội là miễn cưỡng. Tội phạm có cấu thành hình thức, cho nên thời điểm hoàn thành của tôi phạm được xác định từ khi có những hành vi trên, dấu hiệu, hậu quả của tội phạm (ngwoif phạm tội có chiếm đoạt được tài sản hay không, chiếm đoạt được bao nhiêu) không phải là dấu hiệu bắt buộc.

  1. Mặt chủ quan của tội phạm – Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý trực tiếp, mục đích vụ lợi
  2. Chủ thể của tôi phạm – Tội phạm được thực hiện bởi người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo luật định
  3. Hình phạt – theo các khoản Điều 135 – BLHS.
  • Cướp giật tài sản (Điều 136 – BLHS)

Khoản 1 Điều 136 – BLHS quy định: “ Người nào cướp tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm”.

  1. Khách thể của tội phạm – Tội phạm xâm phạm đến quyền sử hữu đối với tài sản.
  2. Mặt khách quan của tội phạm – Tội cướp giật tài sản được thể hiện ở hành vi công khai chiếm đoạt tài sản đang do người chủ, tài sản quản lý rồi nhanh chóng tẩu thoát.

Công khai chiếm đoạt tài sản có nghĩa người phạm tội không cần che giấu hành vi của mình trong lúc thực hiện, chủ sở hữu biết ngay tài sản của mình vừa bị chiếm đoạt như: chộp lấy, giằng lấy, vồ lấy….

Nhanh chóng chiếm đoạt tài sản và nhanh chóng tẩu thoát là đặng trưng cơ bản của tội phạm, nói cách khác người phạm tội có được tài sản trong tya bằng việc nhanh chóng chạy trốn. Để thực hiện hành vi chiếm đoạt, người phakj tội đã lợi dùng sơ hở của người có trách nhiệm quản lý tài sản hoặc có thể tự mình tạo ra các wor hở nhắm có điều kiện thuân lợi để thực hiện hành vi chiếm đoạt. Như vậy, có thể có những sự tác động lên thân thể người chủ tài sản, sự tác động này không nhằm mục đích gây thương tich, gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân hoặc người khác được xem xét là tình tiết tăng nặng của cấu thành tăng nặng mà không truy cứu trách nhiệm hình sự ở tội danh độc lập.

Thự tiễn cho thấy, những tài sản mà bọn tội phạm thường nhằm làm cho đối tượng cướp giật thường là những vật có giá trị, nhỏ, gon, có thể lấy và mang đi dễ dàng như dây chuyền vàng, đồng hồ, ví, túi xách, điện thoại di động…

Tóm lại, dấu hiệu công khai chiếm đoạt tài sản và nhanh chóng tẩu thoát là hai dấu hiệu đặc trương của tội cướp giật. Hai dấu hiệu này giúp ta phân biệt hành vi cướp giật tài sản (Điều 136 – BLHS) với hành vi công nhiêm chiếm đoạt tài sản (Điều 137 – BLHS) và các tội xâm phạm sở hữu khác.

Chú ý: Nếu người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản nhưng đã bị người bị hại hoặc người khác giành lại mà người phạm tội vẫn tiếp tụ dùng vũ lực đe dọa, dùng tức khắc vũ lực tấn công người bị hại hoặc người khác nhắm chiếm đoạt bằng được tài sản thì truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản (Điều 133 – BLHS).

Tội phạm được hoàn thành từ khi giật được tài sản khỏi nơi cất giữ, không kể sau đó kẻ phạm tội có lấy được tài sản hay vứt lại.

  1. Mặt chủ quan của tội phạm – Tội phạm được thực hiện do lỗ cố ý trực tiếp, mục đích vụ lợi
  2. Chủ thể của tội phạm – Tội phạm được thực hienj bởi người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định
  3. Hình phạt – Theo quy định trong khoản điều 136 – BLHS.

 

Bạn đang tham khảo bài viết của Công ty Luật Gia Thái. Nếu có bất cứ thắc mắc cần được hỗ trợ giải đáp, tư vấn pháp luật trực tuyến từ các Luật sư, vui lòng liên hệ ngay với chúng tôi qua Hotline: 0983.232.416 để được tư vấn một cách chính xác nhất!

CÔNG TY LUẬT GIA THÁI

NIỀM TIN VÀ UY TÍN

Trụ sở chính: Số 1/377 đường Giải Phóng, phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân, Hà Nội

Website Công ty – hỏi đáp pháp luật miễn phí tại: https://luatgiathai.com

Chịu trách nhiệm: Luật sư – Luật sư Vũ Thị Thảo – Giám đốc điều hành Giấy phép số: 01021029 /TP/ĐKHĐ Sở Tư pháp TP Hà Nội cấp

Hy vọng rằng bài viết tham khảo của Công ty sẽ giúp bạn có cách nhìn phù hợp và lựa chọn được phương án thích hợp để giải quyết những vướng mắc của bạn. Nội dung bài viết trên chỉ được coi là tài liệu tham khảo. Rất mong Quý khách hàng, người truy cập tuyệt đối không được coi là ý kiến pháp lý chính thức cuối cùng của Luật sư.

LUẬT GIA THÁI – LUẬT SƯ CHO MỌI NHÀ!

TUYÊN BỐ QUYỀN SỞ HỮU ĐỐI VỚI CÁC NỘI DUNG TRÊN WEBSITE:

Webiste https://luatgiathai.com thuộc sở hữu và được hoạt động dưới sự quản lý của Công ty Luật TNHH Gia Thái. Webiste có dẫn chiếu nhiều email hỏi đáp, tư vấn pháp lý cá nhân kèm nhiều thông tin cá nhân của khách hàng. Vì vậy, vui lòng không phát hành lại, tái bản thông tin trên website dưới mọi hình thức nếu chưa có được sự đồng ý của Luật Gia Thái bằng văn bản!

 

 

 

 

 

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *