PHÂN BIỆT BẢN CÁO TRẠNG VÀ LUẬN TỘI

PHÂN BIỆT BẢN CÁO TRẠNG VÀ LUẬN TỘI

 Nội dung bản cáo trạng:

Cáo trạng là văn bản pháp lý, thể hiện quan điểm của Viện kiểm sát về vụ án hình sự trên cơ sở kết quả hoạt động điều tra và ra quyết định truy tố bị can ra trước toà án để xét xử. Cáo trạng là văn bản pháp lý kết thúc giai đoạn điều tra và mở đầu một giai đoạn tố tụng mới, đó là giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự. Theo quy định tại Điều 167 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 thì nội dung cáo trạng phải ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm; địa điểm xảy ra tội phạm; thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội, hậu quả của tội phạm và những tình tiết quan trọng khác; những chứng cứ xác định tội trạng của bị can, những tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị can và mọi tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án. Phần kết luận của bản cáo trạng ghi rõ tội danh và điều khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng.

Về nội dung của luận tội,

Luận tội trên cơ sở quy định của Điều 217 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 và Quy chế về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự thì yêu cầu, nội dung của luận tội như sau:

– Phải phân tích, đánh giá các chứng cứ của vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ; đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, hậu quả gây ra, vai trò trách nhiệm và nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để đề xuất áp dụng pháp luật và vận dụng chính sách xử lý cho phù hợp; khi nêu hành vi phạm tội phải viện dẫn các chứng cứ để chứng minh, bảo đảm tính lôgic và sắc bén.

– Phải phân tích, phê phán thủ đoạn phạm tội của bị cáo; phân tích bác bỏ những quan điểm không có căn cứ, không phù hợp với vụ án của những người tham gia tố tụng khác để làm sáng tỏ sự thật, bảo vệ chính sách pháp luật, thể hiện tính đấu tranh và tính thuyết phục của bản luận tội. Khi phân tích bác bỏ các quan điểm không phù hợp phải viện dẫn các chứng cứ để chứng minh.

– Phải xác định rõ các nguyên nhân và điều kiện phạm tội, tuyên truyền giáo dục pháp luật, góp phần đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, vi phạm pháp luật. Kiểm sát viên phải phân tích, phê phán hành vi và thủ đoạn thực hiện tội phạm, những nhận thức lệch lạc, sai trái của bị cáo để lên án trước dư luận; đồng thời rút ra những bài học cảnh giác trong nhân dân và kiến nghị các biện pháp phòng ngừa để khắc phục những thiếu sót, sơ hở trong công tác quản lý kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, nội dung này phải phù hợp với thực tế của vụ án, tránh cường điệu, lan man, xa rời thực tiễn; cần gắn chặt với yêu cầu chính trị chung và yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương, phục vụ tốt cho việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung và phòng chống loại tội phạm đó nói riêng.

– Đề nghị áp dụng về hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các biện pháp tư pháp, bồi thường thiệt hại (nếu có), đảm bảo chính xác theo điều, khoản, điểm của Bộ luật Hình sự.

Có thể nói, luận tội có ý nghĩa pháp lý và chính trị rất lớn; phần trình bày lời luận tội của Kiểm sát viên thường được sự quan tâm chú ý theo dõi đặc biệt của những người tham dự phiên toà và công chúng.

Xét về tính chất pháp lý thì luận tội của Kiểm sát viên chính là công cụ để Viện kiểm sát thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên toà. Để bản luận tội có chất lượng tốt thì cùng với việc phải nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án trước khi tham gia phiên toà để chuẩn bị dự thảo luận tội, Kiểm sát viên phải hết sức chú ý theo dõi để nắm được toàn bộ diễn biến của phiên toà; tích cực, chủ động tham gia xét hỏi, ghi chép đầy đủ các ý kiến của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác để sửa đổi, bổ sung, cập nhật vào nội dung của luận tội.

Việc đối đáp của Kiểm sát viên trong quá trình tranh luận chủ yếu là đưa ra những lập luận để phản bác những ý kiến không phù hợp của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác về luận tội của Kiểm sát viên. Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 thì kết quả tranh luận có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc giải quyết vụ án của Toà án. Việc phán quyết của Toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục. Đó là những quan điểm cơ bản mang tính định hướng về phương pháp luận mà Kiểm sát viên cần nắm vững để vận dụng trong quá trình tranh luận.

Về yêu cầu đối với Kiểm sát viên khi tranh luận, trước hết phải khẳng định tranh luận là việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được Bộ luật Tố tụng hình sự quy định mà Kiểm sát viên có nghĩa vụ phải thực hiện. Mục đích chủ yếu của tranh luận là nhằm làm sáng tỏ các tình tiết khách quan của vụ án, bảo vệ tính có căn cứ và hợp pháp của các quan điểm truy tố. Tuy nhiên, nếu qua điều tra tại phiên toà mà thấy một số quan điểm trong cáo trạng không phù hợp thì Kiểm sát viên có quyền thay đổi quan điểm. Điều đó cũng có nghĩa là Kiểm sát viên không bảo vệ quan điểm truy tố một cách thiếu căn cứ. Cơ sở để Kiểm sát viên thực hiện việc luận tội và tranh luận là phải dựa vào các quy định của pháp luật và các chứng cứ khách quan đã được kiểm tra tại phiên toà để đưa ra quan điểm và bảo vệ quan điểm của mình. Mặt khác, để bảo đảm tính thuyết phục khi tranh luận, ngoài việc dựa vào các quy định của pháp luật và chứng cứ đã được kiểm tra, xác minh, Kiểm sát viên còn phải dựa vào quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về đấu tranh, phòng chống tội phạm để vận dụng một cách phù hợp.

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *