Điệp viên hoàn hảo (Kỳ 1): Nhà tình báo và người bạn

Điệp viên hoàn hảo (Kỳ 1): Nhà tình báo và người bạn

Dưới ngòi bút của giáo sư – nhà sử học Mỹ Larry Berman trong cuốn sách Điệp viên hoàn hảo, nhà báo trong vỏ bọc mà Phạm Xuân Ẩn tạo ra thuở nào nhằm hoàn thành nhiệm vụ tình báo được giao đã nhập vai một cách hoàn hảo. Hai cuộc đời hoàn hảo trong một cuộc đời hoàn hảo.

Phóng to

Thiếu tướng tình báo – anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Phạm Xuân Ẩn nói về cái nghiệp tình báo đã vận vào mình: “Người ta có thể nói gì về cuộc sống khi mà luôn chuẩn bị sẵn sàng hi sinh”.

TT – Tháng 8-1970. Chuyến bay 90 phút từ Singapore đến Sài Gòn đối với cô Diane Anson dường như dài bất tận. Vài ngày trước đó, cô nhận được thông báo chính thức rằng chồng cô, nhà báo Robert Sam Anson, làm việc cho tạp chí Time, đã mất tích ở Campuchia.

Nghe đọc nội dung toàn bài:

Ngày mất tích là 3-8-1970. Ngoài ra không có một thông tin nào khác.

Rời phi trường, Diane đi thẳng tới trụ sở văn phòng tạp chí Time-Life đặt tại khách sạn Continental. Một tay bế con trai Sam mới 15 tháng tuổi, còn tay kia dắt đứa con gái Christian mới hai tuổi rưỡi, cô vào hết phòng này đến phòng khác để hỏi các phóng viên tại đây thông tin về chồng mình. Diane sợ điều xấu nhất đã xảy ra đối với người phóng viên trẻ nhất của tạp chí Time, đồng thời là người chồng mới 25 tuổi của mình.

Quan điểm chung

Phóng to
Phạm Xuân Ẩn đi đến tiệm cà phê Girval, Sài Gòn năm 1973

Khi nhận nhiệm vụ sang Việt Nam, cũng như hầu hết các phóng viên trẻ đến Việt Nam, Bob Anson kỳ vọng rằng chuyến công tác này là cơ hội để anh tạo dựng danh tiếng của mình giống như các đồng nghiệp David Halberstam, Malcolm Browne và Neil Sheehan đã từng làm những năm đầu thập kỷ 1960.

Nhưng sau vài tháng ở Việt Nam, các bài viết của Anson không được đăng trên tạp chí Time. Hai phóng viên cao cấp thường trú tại Sài Gòn là Clark và Burt Pines dường như cũng gặp ít nhiều rắc rối khi các bài viết của họ không được trưởng ban biên tập tạp chí Time ở New York duyệt.

Trong mắt của Anson, cuộc chiến tranh này là giết chóc và vô đạo đức. Đây cũng chính là quan điểm chung về cuộc chiến tranh tồi tệ được cảm nhận ở mọi nơi, trừ bên trong bốn bức tường của văn phòng tạp chí Time ở Sài Gòn cũng như tại tổng hành dinh tờ tạp chí này ở New York.

Khi Anson nêu vấn đề với ban biên tập tạp chí Time về sự tự quyết của người Việt Nam, anh liền bị gán cho nhãn hiệu là kẻ phản chiến nhụt chí và ấm đầu.

Trong một bữa tiệc tối tại văn phòng tạp chí Time do John Scott – một ủy viên biên tập – chủ tiệc, cuộc nói chuyện xoay quanh vấn đề Mỹ đang giành được những tiến bộ lớn trong chiến tranh, người ta lảng tránh thực tế bằng cách đưa ra những thành tích bằng con số lấp lánh.

Anson không thể chịu được nữa, anh xổ ra một tràng: “Các bạn đã bỏ qua một điểm chính rồi. Người Việt Nam đã từng đánh bại Nhật Bản, đánh bại Pháp, và họ đang đánh bại chúng ta, bất kể chúng ta đã dùng đến vũ khí gì để đánh họ. Người Việt Nam kiên trì lắm, họ rất quyết tâm, và lịch sử đang đứng về phía họ. Có lẽ các người không nhận ra điều đó”.

Anson không hề cảm thấy hối tiếc những điều anh đã nói. Nhưng chính những lời anh nói ra đã mang lại tai họa cho anh. Marsh Clark bí mật gửi một lá thư báo cáo các sếp ở New York.

Nhận được thư của Clark, lãnh đạo tạp chí Time ở New York liền gửi một lá thư cho tất cả các phóng viên và biên tập viên của tạp chí Time đang làm việc trên khắp thế giới rằng: “Trước khi đến Việt Nam, Bob đã từng cảm thấy rằng cuộc chiến tranh ở Việt Nam là vô đạo đức; và rằng Việt Nam hóa chiến tranh chỉ đơn giản là kéo dài cuộc chiến tranh vô đạo đức mà thôi. Chẳng có điều gì ở Việt Nam khiến Bob thay đổi được cách nhìn cũ của anh ta”.

Bob Anson muốn từ chức sau khi đọc được những điều mà anh hiểu rằng Clark đã công khai muốn đuổi anh đi. Đó là lý do tại sao anh đã đi tìm gặp một người bạn thân nhất của mình ở Việt Nam: Phạm Xuân Ẩn. Giống như hầu hết các phóng viên ở Sài Gòn, Anson khâm phục Phạm Xuân Ẩn vì các mối quan hệ của ông trong phủ tổng thống và Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn.

Phạm Xuân Ẩn dường như biết tất cả mọi người và mọi điều xảy ra ở Sài Gòn, đồng thời luôn sẵn sàng giúp đỡ các phóng viên Mỹ tìm hiểu về đất nước ông. Tại phân xã các tòa báo nước ngoài, người ta đồn rằng Phạm Xuân Ẩn là cựu nhân viên mật vụ dưới thời Ngô Đình Diệm, một điệp viên của Pháp, một nhân viên CIA, một điệp viên của Chính quyền Sài Gòn, hoặc là cùng lúc làm điệp viên cho tất cả các cơ quan nói trên.

Trách nhiệm nặng nề

Diane khóc nức nở khi cô tới văn phòng Phạm Xuân Ẩn. Suốt cuộc gặp, Phạm Xuân Ẩn cứ nhìn chằm chằm vào hai đứa trẻ. Phạm Xuân Ẩn lắng nghe lời của Diane cầu xin giúp đỡ tìm kiếm chồng mình. Trong đầu ông bỗng nhớ lại cách đó vài tuần, Bob Anson đã hẹn gặp ông ở tiệm cà phê Givral để nhờ ông đọc qua lá thư xin từ chức mà Bob định sẽ gửi cho Marsh Clark. Ông đã bảo Anson xé lá đơn xin từ chức đó đi.

Nếu ông không khuyên Anson như vậy, rất có thể hôm nay biết đâu gia đình Anson lại chẳng đang cùng nhau đi nghỉ ở Singapore hay Bali. Nếu Anson trước đó từ chức thì anh đã không phải sang Campuchia. Bởi vì vài tuần sau khi Anson gặp ông ở tiệm cà phê Givral, Marsh Clark gọi Anson tới văn phòng của ông ta – nơi có treo trên tường một tấm bản đồ Đông Dương khổ lớn.

Clark chỉ vào Việt Nam, nói với Anson: “Tôi phụ trách đưa tin khu vực này”. Sau đó ông ta chỉ sang vị trí nước Lào và Campuchia nói: “Còn hai nước này thuộc về anh phụ trách”. Kết thúc buổi làm việc hôm ấy, Clark bảo Anson đóng gói đồ đạc để ra sân bay: “Tôi không muốn thấy mặt anh ở đây nữa”.

Phạm Xuân Ẩn cố tìm lời an ủi Diane bằng cách nói rằng ông sẽ làm tất cả mọi điều có thể để giúp đỡ, nhưng trong lòng thì cũng nghĩ rằng bạn mình có thể không còn nữa. Chính vì thế mà ông thấy mình càng phải có trách nhiệm hơn. Phạm Xuân Ẩn hứa với Diane rằng ông sẽ tiếp tục kiểm tra các nguồn tin.

Sau khi Diane và hai đứa nhỏ rời văn phòng, Phạm Xuân Ẩn suy nghĩ mông lung về người bạn Bob Anson của mình. Ông biết rõ những điều cần làm, nếu không cẩn thận có thể làm hỏng sứ mệnh của mình.

Nhà tình báo hàng đầu của Hà Nội ở Sài Gòn chấp nhận rủi ro bị lộ tẩy để cứu mạng sống cho một phóng viên người Mỹ. Ông biết rằng nếu Bob Anson chết, người Việt Nam cũng mất đi một người bạn chân chính. Trong lòng ngập tràn trách nhiệm nặng nề về sự mất tích của Anson, Phạm Xuân Ẩn quyết tâm tìm bằng được câu trả lời về việc Anson còn sống hay đã chết.

Phạm Xuân Ẩn, Tướng tình báo chiến lược

Kỳ 2: Nhập môn nghề tình báo

Đăng Bởi Một Thế Giới – 08:50 08-05-2015

Phạm Xuân Ẩn (thứ hai từ trái) cùng các đồng nghiệp phương Tây – Ảnh: Sách “Điệp viên hoàn hảo”

Ngày 9.1.1950, đám tang Trần Văn Ơn đã biến thành cuộc biểu tình lớn chưa từng thấy, tiếp đó là cuộc biểu tình vào tháng 3, đưa phong trào yêu nước của học sinh sinh viên, và quần chúng đô thị lên đỉnh cao…

Năm ấy, Mỹ bắt đầu can thiệp vào chiến tranh Đông Dương bằng cách hỗ trợ khí tài chiến tranh và đưa cả cố vấn quân sự giúp cho quân đội viễn chinh Pháp. 300 ngàn người đã xuống đường biểu tình chống thực dân Pháp, phản đối bọn can thiệp Mỹ, đuổi tàu chiến Mỹ ra khỏi cảng Sài Gòn. Như bao thanh niên khác, Phạm Xuân Ẩn có mặt ở điểm nóng của cao trào. Thời gian này, Phạm Xuân Ẩn làm thư ký cho một hãng xăng, sau đó làm ở hải quan, vừa để có điều kiện chăm sóc cha đang ốm nặng, vừa hoạt động cách mạng hợp pháp, nhưng ông vẫn dự định đến cuối năm 1951 sẽ vào luôn chiến khu để đi bộ đội vì ông đã được tham gia một khóa huấn luyện quân sự ngắn hạn từ năm 1945.

Nhưng giữa năm 1951, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, lúc đó là Xứ ủy viên Nam Bộ, gọi ông vào chiến khu nhận nhiệm vụ và dặn “vẫn phải giữ nguyên công việc như cũ, không được thoát ly”. Tết năm 1952, ông vào chiến khu Đ gặp bác sĩ Phạm Ngọc Thạch và được giao làm công tác… tình báo chiến lược. Ông vô cùng thất vọng.“Truyền thống gia đình tôi ghét nhất là tình báo, mật vụ, cảnh sát. Hồi nhỏ do quậy phá tôi đã bị cảnh sát bắt mấy lần. Còn lúc tham gia biểu tình, tôi đã chứng kiến cảnh sát đàn áp, đánh đập. Bây giờ bảo tôi  làm nghề này tôi không thích. Nghề chim mồi chó săn đó làm sao tôi làm được!”, ông nhớ lại tâm trạng mình.

Hiểu tâm trạng anh thanh niên này, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch giải thích rằng tình báo của ta hoàn toàn khác với tình báo Pháp, rằng tình báo của ta là tình báo phục vụ cách mạng, rằng đã làm cách mạng thì phải làm bất cứ việc gì, đi bất cứ đâu mà cách mạng cần, cả tính mạng cũng không tiếc, ông Thạch cắt nghĩa cho Phạm Xuân Ẩn nghe thế nào là tình báo chiến lược, theo dõi về quân sự là như thế nào, theo dõi về chính trị là như thế nào, theo dõi về an ninh mật vụ là như thế nào, theo dõi về kinh tế là như thế nào… và quả quyết “cấp trên chọn cậu vì biết chắc việc này cậu làm được, thủng thẳng vừa học vừa làm”:

Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch giao cho ông 4 việc: trước hết là theo dõi việc chuyển quân của quân đội viễn chinh Pháp từ Pháp qua Đông Dương và từ Đông Dương về Pháp, kế đó là theo dõi công cụ chiến tranh mà Mỹ viện trợ quân viễn chinh Pháp, thứ nữa là theo dõi kho xăng Nhà Bè và thứ tư là theo dõi bộ Tổng Tham mưu quân đội viễn chinh Pháp.

Cuộc đời hoạt động tình báo của tướng Phạm Xuân Ẩn bắt đầu từ những việc như vậy. Năm 1951 ta mới thành lập ngành tình báo chiến lược và ông “thuộc lứa đầu tiên”. Lúc ấy, ngoài Bắc cử vào hai cán bộ là Dương Minh Sơn và Nguyễn Vũ làm trợ lý cho bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, ông đã “học những bài học vỡ lòng của nghề tình báo từ hai ông đó”.

 

 Phạm Xuân Ẩn thời thanh niên

Ông trở lại Sài Gòn tiếp tục làm công chức và làm những việc được giao; thu thập tài liệu và chuyển ra chiến khu theo đường giao liên. Công việc diễn ra an toàn, suôn sẻ, trừ một sự cố. Đó là những báo cáo của ông về diễn biến của quân đội Pháp (điều quân đến chỗ này, rút quân khỏi chỗ kia, trang bị, vũ khí…) gửi về căn cứ không hiểu sao được sử dụng làm tài liệu tuyên truyền phát trên đài. Ông kể: “May phước, đồng chí Nguyễn Vũ trợ lý bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đã kịp thời ngăn lại, bảo đây là những báo cáo mật không được đưa lên đài, tụi nó sẽ truy ra cậu Ẩn. Thật hú hồn”. Đó cũng là bài học nhập môn của nghề tình báokhông chỉ đối với ông Ẩn mà cả đối với ngành tình báo non trẻ của chúng ta. Có lẽ kịp rút được kinh nghiệm từ những bài học nhỏ đó mà sau này 23 năm “cùng ăn, ở, cùng làm  việc với địch”, ông Ẩn vẫn an toàn tuyệt đối “một phần do biết tự bảo vệ, một phần do cấp trên bảo vệ.

Tháng 2.1953, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Lễ kết nạp được tổ chức ở Cà Mau, có ông Lê Đức Thọ dự. Ông Thọ dặn: “Hòa bình rồi sẽ đến, nhưng sắp tới tình hình sẽ khác, đối phương kế tiếp của chúng ta là Mỹ, chúng ta sẽ chiến đấu lâu dài. Cậu phải tranh thủ thời gian hòa bình để học hỏi. Vợ con để anh em lo”.

Ông Phạm Ngọc Thạch thì dặn: “cố không để bị bắt lính, nếu bị bắt lính thì ít nhất phải làm đến chức tiểu đoàn trưởng”. Một nguyên tắc ấy thôi, còn mọi sự ông phải tự mình xoay xở.

Năm 1954, nhờ vào các mối quan hệ quen biết, ông vào quân đội Pháp nhưng không ra chiến trường mà làm Bí thư Phòng tác động tinh thần (chiến tranh tâm lý) Bộ Tổng tham mưu. Từ đó, sau Hiệp định Gèneve. Ông có điều kiện thâm nhập sâu vào lòng địch…

Kỳ 3: Phạm Xuân Ẩn – người Việt đầu tiên đến Cali

Một cuộc đời có một không hai, một điệp viên nhị trùng huyền thoại, ông – không ai khác – chính là Thiếu tướng tình báo, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nhà báo Phạm Xuân Ẩn.

Sau Hiệp định Genève, Mỹ thay chân Pháp ở miền Nam, Phạm Xuân Ẩn làm việc ở cơ quan quân sự liên hợp Mỹ – Việt – Pháp (TRIM), tiếp đó làm ở phái bộ huấn luyện quân sự Mỹ CATO. Tại vị trí mới này, ông đã tạo được mối quan hệ thân thiết với nhiều tướng lĩnh chế độ Sài Gòn sau này. 

Lúc ấy, hàng loạt sĩ quan làm việc cho Pháp được đưa sang Mỹ đào tạo và chính ông là người làm thủ tục đưa Nguyễn Văn Thiệu  (lúc đó là trung tá), Cao Văn Viên (lúc đó là thiếu tá), Nguyễn Chánh Thi, Lê Nguyên Khang (lúc đó là đại úy) và nhiều người khác sang Mỹ học.

“Mình lo thủ tục đưa người ta đi, liên lạc thông tin giữa họ và người nhà của họ, báo cho họ thời gian về nhà để đưa đón…Thành thân quen là từ những chuyện như vậy”, ông giải thích. Và mối thân quen đó ngày càng được củng cố sâu hơn khi ông trở thành ký giả của hãng thông tấn và báo chí nước ngoài. Thời kì này, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đã tập kết ra Bắc (làm Bộ trưởng y tế nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa). Người trực tiếp chỉ huy ông là ông Trần Quốc Hương  (Mười Hương) – một cán bộ lãnh đạo mà cuộc đời đầy những trang huyền thoại.

Năm 1957, theo yêu cầu của cấp trên ông giải ngũ và sang Mỹ du học. Đảng cho phép ông đi du học từ 4 đến 6 năm, thứ nhất là để nâng cao trình độ, mở rộng kiến thức, kế đó là để tìm hiểu về nước Mỹ. Ông tính, muốn làm cách mạng lâu dài thì phải có một nghệ thuật giỏi, trước hết là để sinh sống vì không ai làm cách mạng mà “ lãnh lương” của  cách mạng cả (trừ “sinh hoạt phí” cá nhân cần thiết), thứ nữa là cái nghề đó phải tạo ra điều kiện để “ăn sâu trèo cao, mở quan hệ lớn”, đặng hoàn thành nhiệm vụ cách mạng giao. Vì vậy ông đã chọn nghề báo.

Người Mỹ cho ông đi nhưng hỏi: “Anh có làm báo chưa?”.

Trả lời: “Rồi”

“Làm lúc nào?”

“Làm trong quân đội. Đây thẻ báo chí của Phòng Chiến tranh tâm lý”

“Đã đi lính chưa ?”

“Rồi”

“Đi lính đủ niên hạn chưa?”

“Dư 9 tháng”…

Ông nói ông thi tiếng Anh, người Mỹ chấm bài cho đậu, nhưng “mấy cha” ở chính quyền Sài Gòn vẫn bắt phải thi lại vì “anh từng làm việc cho nó, ngộ nhỡ nó bồ với anh nó cho đi thì sao”. Và đích thân Huỳnh Văn Điểm, Tổng Giám đốc Kế hoạch của chính quyền Ngộ Đình Diệm kiểm tra “đưa một bản tiếng Pháp về trồng cây cao su bảo dịch sang tiếng Anh, rồi đưa một văn bản khác bằng tiếng Việt bảo dịch sang tiếng Anh”, ông làm tốt, họ cho đi, sau khi qua một đợt kiểm tra an ninh nghiêm ngặt của An ninh quân đội và Tổng nha Cảnh sát.

Sang Mỹ, ông được giới thiệu đến Đại học Cộng đồng quận Cam, California. Người ta nói ông là người Việt đầu tiên đến Cali là từ sự kiện này.

 

Phạm Xuân Ẩn ở ký túc xá trường Orange Coast – Nguồn: Jim Carnett, trường Orange Coast  

“ Ông Ẩn thường nói với các nhà báo nước ngoài, đồng nghiệp của mình rằng “có ba nền văn hóa trong tôi”. Còn các ký giả phương Tây lại cứ muốn tin rằng ông là sản phẩm của văn minh Mỹ, Vì sao vậy? Có phải vậy không ? Quả thật ông không bao giờ giấu giếm ý nghĩ rằng đã học được rất nhiều điều ở Mỹ và có thể coi thời gian đi học ở Trường Báo chí Orange Coast tại quận Cam, California là những năm quyết định quan trọng đối với ông. Người dân Mỹ trung thực, công bằng, cởi mở và tử tế…. ”. Họ chỉ cho tôi cách nhìn mọi sự theo con mắt của người khác, phê phán bản thân mình trước hết. Họ dạy các thế hệ biết lao động, biết trở về với thực tế. Tôi mong muốn con cái tôi được giáo dục ở Mỹ”. Ký giả nước ngoài vẫn thường trích dẫn ý kiến này.

Nhưng họ không biết rằng việc Ẩn sang Mỹ du học vào cái năm 1957 trên danh nghĩa tự túc bằng tiền hưu trí thôi việc lúc mới 30 tuổi 7 năm làm việc, có đủ tiền máy bay lúc đó giá 600 đô – cuộc đi đó do Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định. Nếu không quá khó khănĐảng muốn Ẩn học từ 4 đến 6 năm để có bằng tiến sĩ. Mục đích của Đảng giao cho Ẩn phải học thật giỏivà tìm hiểu nước Mỹ…”.

Đó là một đoạn trích trong cuốn sách Phạm Xuân Ẩn, tên người như cuộc đời của nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải (NXB Công an Nhân dân, 2002). Trong câu chuyện với chúng tôi về thời kỳ này, ông nói ông không chỉ học về nghề báo mà còn tranh thủ học lịch sử, chính trị, luật pháp, quân sự, kinh tế, tâm lý và con người Mỹ, vì “Tôn Tử dạy phải biết địch, biết ta”.

Tấm ảnh này đăng trên Thanh Niên bán nguyệt san Xuân Ất Hợi 1995 kèm bài Chuyện bình thường trong đời người anh hùng của nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải với lời chú thích:“Người ngồi trên xích lô là Elon Earl Hildieth, Giám đốc cơ quan viện trợ Mỹ. Đứng phía trái là một người bạn, còn chàng đạp xích lô chính là Phạm Xuân Ẩn. Ảnh chụp tại California năm 1958”. Bài báo viết rằng lúc 20 tuổi, có thời kỳ ban ngày ông Ấn đi làm thư ký, chiều dạy học, tối kiếm thêm tiền nuôi cha bệnh nằm ở Chợ Rẫy bằng cách đạp xích lô chở khách đi đánh tài xỉu ở sòng bạc Đại Thế Giới. “Mấy cô mấy bà đánh bạc dữ lắm. Hễ khi nào họ thắng bạc, vui vẻ cho tiền nhiều. Khi họ thua buồn rầu, cũng có chàng xích lô đó chở không”. “Chiếc xích lô trong hình là của ông giám đốc Cơ quan Viện trợ Mỹ mua về nước làm kỷ niệm. Tôi sang đó, đạp chở ông đi chơi quanh quanh” – chị Ngọc Hải dẫn lời ông Ẩn.

Kỳ 4: Vào sâu sào huyệt

Phạm Xuân Ẩn đã bố trí cho cả gia đình ra đón ở sân bay để nếu chẳng may ông bị bắt thì còn có người chứng kiến. Lúc đó, rất nhiều đồng đội của Phạm Xuân Ẩn đã bị bắt. Ông Mười Hương, chỉ huy trực tiếp của Phạm Xuân Ẩn, cũng đã bị bắt năm 1958 và đang bị giam giữ ở nhà lao Chín Hầm.

Vào phủ tổng thống

Do đi vắng lâu không nắm được tình hình ở nhà, nên suốt một tháng đầu kể từ khi về nước, Phạm Xuân Ẩn cứ ở lì trong nhà. Ông gửi một lá thư cho bác sĩ Trần Kim Tuyến. Trần Kim Tuyến vẫn còn quan hệ rất chặt với Ngô Đình Nhu, em trai Ngô Đình Diệm. Trong thư, Phạm Xuân Ẩn viết: “Tôi mới học xong lớp báo chí ở Mỹ và đã về nước, hiện đang cần một việc làm. Ông có thể bố trí cho tôi vào đâu được không?”.

Trần Kim Tuyến nhận thấy ngay giá trị của việc có một người tốt nghiệp ở Mỹ như Phạm Xuân Ẩn làm việc cho chính quyền Diệm. Ông ta liền bố trí cho Phạm Xuân Ẩn vào làm nhân viên trong văn phòng phủ tổng thống. Với vị trí này, Phạm Xuân Ẩn tiếp cận được các hồ sơ về quân đội, quốc hội, và nói chung là các loại hồ sơ về tất cả các tổ chức ở miền Nam VN. Tuy nhiên, ngay sau đó Trần Kim Tuyến lại nhận thấy một điều quan trọng hơn trong việc sử dụng kỹ năng báo chí của Phạm Xuân Ẩn. Trần Kim Tuyến bảo Phạm Xuân Ẩn đến gặp Nguyễn Thái, tổng giám đốc Việt Tấn xã (Vietnam Press). Việt Tấn xã là một cơ quan báo chí chính thức của chế độ Ngô Đình Diệm. Từ hàng ngàn tin tức do các hãng thông tấn lớn quốc tế cung cấp mỗi ngày, Việt Tấn xã có nhiệm vụ lựa chọn ra những tin nào phù hợp về mặt chính trị để cho dịch sang tiếng Việt rồi xuất bản, coi đó như là quan điểm chính thức của chính quyền Ngô Đình Diệm.

 

Làm nghề phóng viên đã hỗ trợ rất nhiều cho nhiệm vụ của nhà tình báo chiến lược như Phạm Xuân Ẩn, bởi vì công việc của nhà báo cũng là đi nghe ngóng tìm kiếm sự thật từ những tin đồn. Phạm Xuân Ẩn nhận thấy nghề làm báo và nghề tình báo có rất nhiều điểm tương đồng. Ông cho rằng: “Điểm khác nhau duy nhất giữa hai nghề này là ở chỗ cuối cùng thì ai là người đọc bài viết của anh”.

Nguyễn Thái nhớ lại: “Phạm Xuân Ẩn là nhân viên đầu tiên của Việt Tấn xã được đào tạo báo chí ở Mỹ và là người nói trôi chảy tiếng Anh. Hơn nữa, tôi đang cần một phóng viên giỏi như vậy để đưa tin từ văn phòng tổng thống, vì đây là một nhiệm vụ rất nhạy cảm. Tôi nhận thấy Phạm Xuân Ẩn rất thạo tin và quan hệ rộng. Dường như ông ấy quen biết tất cả những nhân vật quan trọng ở Nam VN, nhưng không bao giờ thấy ông khoe khoang điều đó. Đầu óc dí dỏm và khiếu hài hước khiến ông trở thành một người mà ai cũng thích”. Phạm Xuân Ẩn được các nhà báo quốc tế ở Sài Gòn yêu quí đến mức phóng viên quốc tế nào cũng đánh giá rất cao về ông.

Phạm Xuân Ẩn làm việc cho Việt Tấn xã không lâu bởi vì ông được các tờ báo lớn và các hãng thông tấn nước ngoài mời chào vào làm việc ở vị trí cao. Tất cả các cơ quan báo chí nước ngoài ở Sài Gòn đều đánh giá cao Phạm Xuân Ẩn bởi sự hiểu biết sâu sắc về chính trị VN và việc ông có quan hệ rộng với các quan chức Sài Gòn. Phạm Xuân Ẩn chuyển sang làm cộng tác viên cho Hãng thông tấn xã Anh Reuters. Phạm Xuân Ẩn cộng tác với phóng viên Reuters Peter Smark, người Úc. Văn phòng của Reuters đặt ngay trong khuôn viên của Việt Tấn xã.

 

Để thực hiện những chuyến đi về Củ Chi, Phạm Xuân Ẩn để ria mép và nuôi tóc dài hơn một chút nhằm che giấu khuôn mặt thật của mình

Con sói cô đơn

Trên thực tế, khi đó công việc của Phạm Xuân Ẩn với tư cách một nhà tình báo chiến lược mới chuẩn bị bắt đầu. Ông có thể sử dụng tất cả những mối quan hệ của mình với các nhân vật chống cộng sản khét tiếng. Đồng thời, Phạm Xuân Ẩn có thể phát huy tất cả những kỹ năng xã hội mà ông học được ở Mỹ để tiếp cận các tài liệu, các buổi thông báo tin tức giúp ông hiểu được những mấu chốt để chống lại những chiến thuật mới của Mỹ ở VN.

Phạm Xuân Ẩn luôn tự ví mình như một con sói cô đơn, bởi vì chẳng ai giám sát hoạt động hằng ngày của ông. Tất cả mọi việc liên quan đến hoạt động tình báo đều tùy thuộc ở sự sáng tạo của Phạm Xuân Ẩn. Mỗi khi Trung ương Cục miền Nam có yêu cầu đặc biệt, Phạm Xuân Ẩn sẽ nhận được chỉ thị thông qua những thông tin được mã hóa do bà Ba chuyển tới, hoặc người nữ liên lạc này tìm cách gây chú ý với Phạm Xuân Ẩn khi ông đến đón các con giờ tan trường.

Phạm Xuân Ẩn đôi khi cũng đến căn cứ Việt cộng để trình bày các báo cáo của mình, cũng như để được giao thêm nhiệm vụ mới. Để thực hiện những chuyến đi về Củ Chi, Phạm Xuân Ẩn để ria mép và nuôi tóc dài hơn một chút nhằm che giấu khuôn mặt thật của mình. Mỗi khi thực hiện chuyến đi như vậy, Phạm Xuân Ẩn đều tạo ra một lý do cho sự vắng mặt của mình. Ông thường nói với các đồng nghiệp làm việc ở tạp chí Time rằng “Giáo sư tình dục học đi nghỉ ba ngày ở Huế để tìm kiếm các em xinh tươi nhìn có vẻ nghệ sĩ và hippy”.

Khi chuyển sang làm việc cho tạp chí Time, Phạm Xuân Ẩn sử dụng những tư liệu mà các phóng viên khác đã tiếp cận trước. Đó là những tài liệu của phía bên kia mà cảnh sát Sài Gòn thu được, những tin bài do các hãng thông tấn lớn phát phổ biến, những bài viết trên các báo chí, và cộng thêm thông tin từ các nguồn cao cấp của ông. Điều này chứng tỏ rằng Phạm Xuân Ẩn đã giữ lại một số thông tin, không viết hết cho tạp chí Time những điều ông biết. Mặt khác, trong công việc của một nhà tình báo chiến lược, Phạm Xuân Ẩn phụ thuộc nhiều vào những tài liệu thu được từ nhiều mối quan hệ của ông trong tổ chức tình báo trung ương VN, quân đội VN Cộng hòa, quốc hội, và các mối quan hệ tiếp xúc của ông trong các cộng đồng tình báo Mỹ, Pháp, Trung Quốc.

Phong trào nổi dậy ở miền Nam VN đang càng ngày càng phát triển rầm rộ. Tổng thống Eisenhower đã ra lệnh xây dựng một kế hoạch toàn diện chống nổi dậy. Chẳng bao lâu sau, Mỹ cho ra đời sản phẩm “Những chiến thuật và kỹ thuật hoạt động chống nổi dậy (CIP)”. Sản phẩm CIP được mang đến Sài Gòn đầu năm 1961. Ngay lập tức, một bản copy của tài liệu này được chuyển cho bác sĩ Trần Kim Tuyến.

Ông Trần Kim Tuyến liền đưa cho Phạm Xuân Ẩn yêu cầu phân tích tài liệu đó để giúp ông ta có thể nắm được hết các ý tứ trong chiến lược mới. Tham mưu trưởng lục quân, tướng Trần Văn Đôn, cũng trao cho Phạm Xuân Ẩn một bản tài liệu đúng như vậy. Đây là những tài liệu được xuất bản tháng 5-1961 gồm 47 trang, trong đó có cả những sơ đồ xác định mục tiêu nhằm tiêu diệt các lực lượng của Việt cộng. Phạm Xuân Ẩn còn thường xuyên giữ liên lạc với các tướng lĩnh quân đội VN Cộng hòa sau khi họ kết thúc khóa huấn luyện đặc biệt về chiến lược chống nổi dậy được tổ chức tại Trung tâm chiến tranh đặc biệt quân đội Mỹ ở Fort Bragg (Mỹ) trở về.

Nhiệm vụ của Phạm Xuân Ẩn là phân tích các chiến thuật mới để những nhà vạch kế hoạch quân sự cộng sản đưa ra được những chiến thuật đối phó. Phạm Xuân Ẩn nói: “Tôi được phía VN Cộng hòa tin cậy nên trao cho nhiều tài liệu, thậm chí cả ông Trần Kim Tuyến cũng vậy. Tôi đã đọc tất cả những tài liệu ấy, trao đổi với các cố vấn quân sự Mỹ và những người bạn VN của tôi vừa từ khóa huấn luyện ở Mỹ trở về. Sau đó tôi viết báo cáo tình báo gửi đi”.

Kỳ 5: Phạm Xuân Ẩn – từ mật vụ đến nhà báo

Phạm Xuân Ẩn trong một bữa tối công vụ tại Việt Tấn Xã – nguồn: Tư liệu cá nhân của Phạm Xuân Ẩn

“Lúc tôi sang Mỹ, chính ông Trần Kim Tuyến đồng ý, bên an ninh mới cho phép xuất ngoại. Thời ấy xin passport khó lắm chứ không dễ như bây giờ. Khi về, vào làm việc ở cơ quan mật vụ Phủ Tổng thống cũng nhờ ông Tuyến” – ông Phạm Xuân Ẩn kể lại.

Từ cơ quan mật vụ, ông sang làm ở Việt Tấn Xã (VTX). Ông giải thích, khi ông đi Mỹ học, ông Nguyễn Thái  – Tổng Giám đốc VTX có đề nghị ông học xong về làm việc cho VTX. Ông Thái là một trong 10 người học ở Mỹ được Ngô Đình Diệm đưa về phục vụ cho chế độ của Diệm. Ông quen ông Thái thông qua một người bà con. Lúc này VTX có nhận viện trợ của cơ quan Văn hóa Á châu chuẩn bị mở một lớp báo chí (khi ấy trong nước chưa có trường đào tạo báo chí), ông Thái muốn ông sang đó để làm việc này. Còn cơ quan mật vụ của Phủ Tổng thống có tên gọi là Sở Nghiên cứu chính trị, văn hóa và xã hội. Ông làm phần văn hóa. Ông được Trần Kim Tuyến biệt phái sang làm ở VTX nhưng vẫn còn là người của Sở Nghiên cứu chính trị.

Lúc ấy, do mâu thuẫn quyền lực giữa Bộ Thông tin và VTX nên Bộ Thông tin không cho VTX mở lớp đào tạo báo chí. Ông được giao nhiệm vụ phụ trách đám ký giả hoạt động ở nước ngoài. Tại VTX, có rất nhiều người của Trần Kim Tuyến, trong đó có một đám ký giả đi học nước ngoài về được cử sang một số nước Á, Phi hoạt động tình báo.

“Mấy cha” tình báo này ỷ vào quyền lực của Sở Nghiên cứu chính trị nên rất ngang ngược, không coi Tổng Giám đốc VTX ra gì. Còn ông Nguyễn Thái thì không dám rầy rà đám này vì ngại va chạm với Trần Kim Tuyến. Có ông sang, ông Nguyễn Thái rất mừng: “Tui giao đám này cho anh quản lý, anh trị hoặc muốn làm gì tụi nó thì làm“.

Ông nhận việc và làm như không hề biết mấy tay nhà báo giả danh này hoạt động tình báo mà ông cứ theo nguyên tắc nghề nghiệp ông quản. “Bài vở từ đám ký giả này gửi về rất ít, có người cả tháng không viết, có người có cắt báo chí nước ngoài gửi về. Tôi làm công văn đưa cho Tổng Giám đốc VTX xem, ông Thái giao tôi nhân danh Tổng Giám đốc ký gửi cho đám ký giả này yêu cầu: “Tất cả phải có bài vở đầy đủ, tối thiểu mỗi tuần một bài. Nếu không sẽ bị đuổi”, ông kể lại.

Đám ký giả hậm hực báo với Tuyến: “Ở VTX có thằng Ẩn rất hỗn, nó làm vậy tụi tui không có thời gian đâu mà hoạt động tình báo”. Trần Kim Tuyến gọi ông sang bảo: “Làm gì mà khó khăn vậy ?”. Ông Ẩn: “Ông Thái nể ông nên ổng không nói. Còn tôi thì không rành nghề tình báo, nhưng tôi thấy ông dùng nghề báo làm tấm bình phong như thế thì coi như việc này bị xé bỏ, lộ hết rồi. Đã làm báo thì phải viết tin, viết bài chứ!”.

Tuyến chịu, chấn chỉnh đám ký giả và lưu ý với họ: “Thằng Ẩn là dân làm báo chuyên nghiệp, học ở Mỹ về. Các anh mà làm không đàng hoàng, nó sẽ trị”.

 Một trong rất nhiều thẻ nhà báo của Phạm Xuân Ẩn 

Đến năm 1960, hãng thông tấn Anh Reuters có ký hợp tác thông tin với VTX, cần một người Việt Nam thực hiện dự án. Phạm Xuân Ẩn được mời làm việc này. Ông kể: “Lúc này tôi ăn 3 lương: Phủ Tổng thống, VTX và Reuters”. Nhưng sau một thời gian, ông nói với Trần Kim Tuyến: “Ăn 3 lương coi chẳng giống ai, không có lợi“.

Tuyến tán thành. Đầu 1961, ông chỉ làm việc cho Reuters nhưng vẫn giữ quan hệ chặt chẽ với Phủ Tổng thống.

Sau năm 1954, toàn Nam Bộ có 6 vạn cán bộ, đảng viên ở lại hoạt động. Ta tôn trọng Hiệp định Genève, kiên trì đấu tranh chính trị đòi Mỹ – Diệm thi hành Hiệp định Genève, không đấu tranh vũ trang. Còn địch thì mở rộng chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” trong những năm 1957-1959, “lê máy chém đi khắp miền Nam”, đánh phá ác liệt vào cơ sở của ta và phong trào quần chúng. Lực lượng cách mạng tổn thất hết sức nặng nề. Riêng tại Sài Gòn và Đông Nam Bộ, trong số 2 vạn cán bộ, đảng viên, có đến 85% bị địch giết hại hoặc bị tù đày.

Phạm Xuân Ẩn trở thành chuyên viên trong 2 cơ quan mật vụ Phủ Tổng thống ngụy vào thời điểm đó. Tại đây ông đã nắm được rất nhiều thông tin cơ mật của chế độ, nhưng rất tiếc là ông vẫn chưa nối được liên lạc với tổ chức. “Nguyên tắc của công tác tình báo là cấp trên tìm anh chứ anh không được phép tìm cấp trên” – ông nói. Nhưng ông không thể ngồi chờ.

Ông định đến nhờ bà Huỳnh Tấn Phát (vợ kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát – Chủ tịch Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam sau này) vì hồi nhận công tác chỗ bác sĩ Phạm Ngọc Thạch ông đã liên lạc qua đường dây này, song chưa kịp nhờ thì bà Huỳnh Tấn Phát cũng bị bắt (năm 1960).

Đến cuối 1960, thông qua người của ông Mười Hương, ông mới gặp được ông Cao Đăng Chiếm, một cán bộ lãnh đạo phụ trách An ninh miền lúc ấy và chính thức nhận nhiệm vụ mới, người phụ trách trực tiếp ông là ông Mười Nho. (Còn tiếp) 

Kỳ 6: CIA có công nghệ, kỹ thuật nhưng họ không giỏi dự đoán

Phạm Xuân Ẩn (bìa phải) trong dịp nhận danh hiệu Anh hùng năm 1976 cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp – ảnh: Tư liệu cá nhân của Phạm Xuân Ẩn

Có rất nhiều chuyện Phạm Xuân Ẩn “sống để bụng chết mang theo”, đó là những chuyện liên quan đến cuộc sống, đến đời tư của người khác. Chúng vĩnh viễn là những bí mật. Trong những báo cáo tình báo cho cấp trên, ông chỉ báo cáo sự kiện và phân tích các sự kiện ấy, chứ không dẫn người cung cấp nguồn tin.

  1. Tôi hỏi: “ưu điểm nổi bật trong công tác tình báo của ta là gì ?”.

Ông Ẩn: “Là tài phân tích của trung ương. Cho nên, có khi ít thông tin nhưng nhận định và dự đoán rất chính xác”.

“Còn tình báo Mỹ ?”.

“Mỹ có kỹ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến. Nhưng họ không giỏi dự đoán, chẳng hạn như trong sự kiện khủng bố 11.9 vừa qua”.

“Vì họ không có thông tin ?”.

“Không phải. Có căn cứ cho thấy họ có thông tin, song họ không đánh giá được những thông tin đó. FBI, CIA rất giỏi điều tra những sự kiện đã diễn ra, còn những việc sẽ diễn ra thì chưa chắc”.

Có lẽ đây là đề tài rộng lớn mà các nhà chiến lược, các nhà khoa học quân sự, các sử gia sẽ tiếp tục nghiên cứu. Còn ông, cho đến giờ này, khi đã 76 tuổi, vẫn không hề đánh giá thấp đối phương. Ông nhìn các sự kiện trong bản chất của nó.

Có rất nhiều chuyện ông “sống để bụng chết mang theo”, đó là những chuyện liên quan đến cuộc sống, đến đời tư của người khác. Chúng vĩnh viễn là những bí mật. Trong những báo cáo tình báo cho cấp trên, ông chỉ báo cáo sự kiện và phân tích các sự kiện ấy, chứ không dẫn người cung cấp nguồn. Ông nói, dù họ có chết đi rồi ông cũng không nói, vì họ chết rồi còn có con họ, nếu nói thì “con họ sẽ thù con tôi”. Đối với ông, đó là nguyên tắc bất di bất dịch. “Tôi chỉ là người nghiên cứu thời cuộc”, có lần ông nói với một nhà báo nước ngoài.

“Nghiên cứu thời cuộc sao được thưởng huân chương ?”.

“Thì như vậy là được thưởng rồi”. Ông thường đùa như thế.

  1. Sách giáo khoa lịch sử lớp 12 viết:“Bước vào năm thứ ba củacuộc chiến đấu chốngChiến tranh đặc biệt, quân dân miền Nam giành được thắng lợi vang dội trong trận Ấp Bắc (Mỹ Tho) ngày 2.1.1963. Tại đây, lần đầu tiên với số quân ít hơn địch 10 lần, các chiến sĩ quân giải phóng cùng với nhân dân đánh bại cuộc hành quân càn quét của trên 2.000 quân ngụy có cố vấn Mỹ chỉ huy, được pháo binh, máy bay lên thẳng, xe bọc thép yểm trợ. Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 450 tên địch (có 19 cố vấn Mỹ), bắn rơi 8 máy bay, bắn cháy 3 xe bọc thép M.113. Chiến thắng Ấp Bắc chứng minh khả năng quân dân miền Nam có thể đánh bại hoàn toàn Chiến tranh đặc biệt của Mỹ – Ngụy. Sau trận Ấp Bắc, trên khắp miền Nam dấy lên phong trào thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công”.

Trận đó, có hai người được thưởng Huân chương chiến công. Đó là người chỉ huy trận đánh và Phạm Xuân Ẩn, ký giả hãng tin Anh Reuters. Điều thú vị là ngay sau hôm diễn ra trận đánh, ông đã đáp trực thăng Mỹ vào ngay trận địa để… “coi ta thắng lớn”.

 

               

Trực thăng Mỹ – VNCH bị bắn rơi trong trận Ấp Bắc – Ảnh: Từ sách Điệp viên hoàn hảo

 

 Khẩu đại liên đã bắn hạ 8 máy bay Mỹ trong trận Ấp Bắc. Ảnh: TTXVN

“Ông làm gì trong trận này mà được thưởng huân chương ?”.

“Tôi là tình báo chiến lược. Tôi phân tích học thuyết, cung cấp các tài liệu về chiến lược, chiến thuật, các kế hoạch và những thông tin liên quan về Chiến tranh đặc biệt của Mỹ. Trên cần cái gì, tôi đáp ứng ngay cái đó. Chỉ có thế thôi”. 

Ông kể, ông bắt đầu tập trung vào việc này từ ngay sau khi nối lại liên lạc (cuối năm 1960), nhưng trước đó ông cũng đã hiểu khá sâu về các kế hoạch của Mỹ. Ông biết Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm chủ trương không thi hành Hiệp định Genève và sợ rằng miền Bắc sẽ đưa quân vào đánh lớn, nên chúng đã nhanh chóng thành lập 6 sư đoàn khinh quân (trước đây quy mô lớn nhất của quân ngụy chỉ là tiểu đoàn, do Pháp chỉ huy), sau đó lập thêm 4 sư đoàn dã chiến.

Nhưng lúc đó ta chủ trương nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Genève, không đánh vũ trang chỉ tiến hành đấu tranh chính trị, nên lực lượng bị tổn thất rất nhiều trước khi Đồng khởi. Khi ta bắt đầu chiến đấu vũ trang, Mỹ tiến hành chiến tranh đặc biệt, tăng nhanh viện trợ quân sự, đưa cố vấn ngày càng nhiều vào miền Nam. Lực lượng quân ngụy tăng nhanh chóng, từ 17 vạn giữa năm 1961 lên 56 vạn vào cuối năm 1964, quân ngụy được trang bị hiện đại, sử dụng “trực thăng vận”, “thiết xa vận”.

Với phương tiện quân sự và cố vấn Mỹ, quân ngụy mở các chiến dịch càn quét nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng, tiến hành các hoạt động phá hoại miền Bắc, phong tỏa biên giới, phong tỏa vùng biển nhằm ngăn chặn “sự xâm nhập của cộng sản” vào miền Nam. Cùng với các hoạt động quân sự, Mỹ – ngụy tiến hành kế hoạch dồn 10 triệu nông dân vào 16 ngàn “ấp chiến lược”, coi đó là “quốc sách”, nhằm tách dân ra khỏi cách mạng, thực hiện chương trình “bình định” miền Nam. Các kế hoạch Staley-Taylor, kế hoạch Johnson-Mc Namara… bây giờ đều ghi trong sách giáo khoa lịch sử để giảng cho học sinh về cuộc kháng chiến chống Mỹ,

còn Phạm Xuân Ẩn hồi đó đã nghiên cứu, phân tích và cung cấp kịp thời cho cơ quan đầu não của cách mạng khi chúng còn là những tài liệu cơ mật của địch. Từ đó, cơ quan đầu não của cách mạng mới có cơ sở đánh giá chính xác tình hình địch, kịp vạch ra chiến lược, chiến thuật và tổ chức lực lượng bẻ gãy chiến lược chiến tranh của Mỹ.“Tình báo chiến lược ta có hàng trăm, cấp trên có rất nhiều nguồn tin, tôi chỉ là một đầu mối” – Ông lại lưu ý tôi “phải viết cho chính xác”.

Kỳ 7: Hai sự thật của ông Phạm Xuân Ẩn

Phạm Xuân Ẩn (áo trắng, trái qua) là một nhà báo lão luyện (Ảnh: Tư liệu)

Theo nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải, 14 năm sau giải phóng, Morley Safer, chủ biên Chương trình 60 phút nổi tiếng Đài Truyền hình CBS trở lại Sài Gòn gặp Phạm Xuân Ẩn. Cuộc gặp gỡ được viết thành một chương trong cuốn sách hồi tưởng Khi trở lại thăm Việt Nam (NXB Random House, 1989). Hôm đó, Morley hỏi ông: “Anh đang còn là một bí mật. Dân chúng vẫn chưa biết chắc là anh hoạt động cho phe nào?…”

Vậy sự thật ra sao?

Phạm Xuân Ẩn cười lớn: Sự thật ? Sự thật nào mới được chứ ? Có một sự thật là trong 10 năm tôi là phóng viên cho tòa soạn tuần báo TIME và trước đó làm cho hãng Reuters. Một sự thật khác nữa là tôi gia nhập phong trào cách mạng từ năm 1944 và là thành viên của họ từ đó với các chức vụ khác nhau. Hai sự thật, hai sự thật… đều thật” – Morley thuật lại.

Họ (cấp trên của ông Ẩn) trông cậy ở ông điều gì?”.

Ông Ẩn: “Cũng là những điều mà tòa báo TIME muốn tôi viết…” (sách đã dẫn).

Sự hình dung của tôi về những người làm tình báo vẫn theo “mô-tip” của những câu chuyện mà tôi từng đọc trong sách. Chức cố vấn của ông Vũ Ngọc Nhạ là giả danh, tất cả chức vị, vai trò của ông Phạm Xuân Ẩn “trong lòng địch” cố nhiên cũng là giả danh. Nhưng khi gặp ông, tôi mới thấy ông không nằm trong “mô-tip” của sách vở. Không thể nói ông hơn hay không hơn ông Nhạ hoặc bất cứ ai khác. Ông là một nhân vật đặc biệt, thậm chí cá biệt, ít nhất là trong tầm hiểu biết của tôi. Làm cho Reuters hay TIME,ông không hề giả danh mà làm thật.

Lại câu hỏi của Morley: “Họ (cấp trên của ông Ẩn) có yêu cầu anh bịa đăt trên báoTIME không ?”.

Ông Ẩn: “Không. Họ đủ khôn ngoan để thấy rằng loại tin ấy dễ bị phát giác. Họ dặn đi dặn lại tôi là không làm bất cứ điều gì có thể phương hại tới công tác”.

 

Phạm Xuân Ẩn (bìa trái) lúc làm ở tờ báo Time 

Suốt mấy chục năm hoạt động ở Sài Gòn, ông không “chơi” với bất cứ ai có “quan hệ với cộng sản” hoặc “thân cộng”. “Chơi với họ không được, rất dễ bị lộ lưng”, ông giải thích, ông có quen với một số chủ báo, nhưng không viết báo Việt Nam và cũng không chơi với các ký giả trong nước vì “báo chí trong nước cách mạng thâm nhập vào nhiều, dễ bị kẹt”. Hồi ấy Reuters là hãng tin “trung lập”, làm ở đó có thể viết bài khách quan, thông tin chính xác, có lợi cho việc khẳng định uy tín của mình. Nhưng Mỹ càng lún sâu vào chiến tranh Việt Nam, ông chuyển sang làm báo Mỹ để tiến sâu vào quan hệ với đối phương.

  1. Ông thân thiết với hầu hết giới cầm quyền cao nhất và các tướng lĩnh của chế độ Sài Gòn như Ngô Đình Cẩn, Trần Kim Tuyến, Nguyễn Chánh Thi, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Hữu Có, Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Cao Văn Viên… cùng nhiều bộ trưởng, nghị sĩ, dân biểu khác. Ông cũng không gặp khó khăn gì khi muốn tiếp cận với các nhân vật mà ông muốn tiếp cận. Hồi ông còn làm cho Reuters, Nguyễn Văn Châu làm giám đốc chiến tranh tâm lý nhưng nằm trong Quân ủy Trung ương Đảng Cần Lao, rất thế lực, có thể “lấy trực thăng của Phủ Tổng thống đi khắp nơi”. Trần Kim Tuyến giới thiệu ông với Châu: “Ẩn trước đây là người của Phủ Tổng thống, rất tốt. Bây giờ làm báo, nó cần gì ông giúp nó”. Châu rất khoái, hàng ngày sẵn sàng đưa các bản tin quân sự mật cho ông đọc, chỉ yêu cầu “tuyệt đối đừng để lộ ra ngoài”.

Trong nghề báo, không ai đủ khả năng cạnh tranh được với ông về tin tức. Hồi Nguyễn Chánh Thi làm đảo chánh do quen với ông ta nên ông có mặt tại chỗ và đứng nói chuyện với Thi ngay cạnh những chiếc xe tăng”. Ông thường hay đi trực thăng Mỹ đến các chiến trường , khi có hành quân là Mỹ cho ông theo. “ Tụi nó thường cho coi B52 dội bom như thế nào và hướng dẫn ký giả chụp hình như thế nào. Những lúc ấy tim tôi như có ai bóp, đau lắm, ông nhớ lại: “Đi chiến trường ông có gặp nguy hiểm không”?. Nó hên xui thôi. Như lần ra vĩ tuyến 17, máy bay tôi đã bị bộ đội ta bắn trúng nhưng không trúng chỗ hiểm nên thoát chết. Mấy lần thoát chết như vậy rồi”.

 

Thẻ nhà báo của Phạm Xuân Ẳn  

Khi Bác Hồ mất, Phạm Xuân Ẩn đã viết bài về Bác đăng trên báo TIME với nhiều thông tin phong phú, được tòa báo đánh giá cao. Ông kể: “Bác Hồ là người vĩ đại nên phóng viên báo TIME trên khắp thế giới ai cũng viết. Tôi dựa vào sách của Mỹ và Pháp về thân thế Bác để viết. Đối với những tư liệu của ta, tôi phải chuẩn bị sẵn để rủi có ai hỏi thì nói rằng tư liệu này là của cộng sản nhưng Mỹ hành quân lấy được. Hồi đó tôi cũng học Nghị quyết của Đảng bằng tiếng Anh, tài liệu do Mỹ thu được lúc chúng đi hành quân rồi dịch ra”. Ông cũng là nhà báo theo dõi và đưa tin về cái chết của người anh hùng Nguyễn Văn Trỗi trong sự kìm nén xúc động.

Ông nhớ lại lần cùng một phóng viên Úc đi phỏng vấn ông Nguyễn Thế Truyền. Ông Truyền là người quen thân với Bác Hồ hồi ở bên Pháp. Khi trả lời phỏng vấn, ông Truyền thẳng cánh chửi chế độ Diệm là thối nát, gia đình trị. Anh bạn người Úc hỏi ông Truyền: Những tuyên bố như vậy có đăng nguyên văn được không ?”. Ông Truyền: “Luôn luôn được. Cứ việc đăng. Tôi – Nguyễn Thế Truyền nói như vậy”.

Lúc đó ông nghĩ nếu đăng thì ông Truyền sẽ gặp ngay rắc rối. Ông bèn trở lại xin phép ông Truyền chí trích thôi chứ không đăng nguyên văn. Ông nghĩ, làm như vậy nếu gặp rủi ro ông Truyền có thể chối “tại tay ký giả nghe không rõ”. Ông Truyền nói: “Được, tùy ký giả – Cảm ơn anh đã hỏi ý kiến tôi. Anh là người đứng đắn”.

Những việc “lặt vặt” như vậy cũng làm mọi người thêm yêu quý ông.

Kỳ 8: Chiến lược và chiến thuật

Đăng Bởi Một Thế Giới – 13:20 15-05-2015

Phút thư giãn hiếm hoi của ông Phạm Xuân Ẩn giữa Sài Gòn năm 1974

“Thông tin trên báo tất nhiên không có gì là mật cả. Nhưng chính những thông tin công khai ấy được đưa vào bản báo cáo tình báo, chúng thành thông tin mật” – ông Ẩn nói về quan hệ giữa Báo chí và công tác Tình báo.

Nhưng người làm tình báo không chỉ cần thông tin đã đăng trên báo mà cái họ cần hơn là những thông tin “tồn kho” của các nhà báo.

Ông nói tiếp: “Anh làm báo thu thập thông tin nhiều, nhưng không bao giờ xài hết, vì báo làm sao có chỗ đăng hết thông tin của anh. Nên anh nào siêng thì để đó, sau này viết sách, còn anh lười thì bỏ đi”.

Theo ông, chính những cái “bỏ đi” ấy anh làm tình báo lại cần.

Vì thế các tay tình báo, đặc biệt là các quan chức tình báo nước ngoài bao giờ cũng muốn “chọi” với các nhà báo. Trong quan hệ này, cái lợi của anh tình báo là khai thác các thông tin “tồn kho” của anh nhà báo, nhưng anh nhà báo cũng được lợi, anh có điều kiện “moi” tin.

Song các quan chức tình báo nước ngoài không phải cần quan hệ với mọi ký giả, họ chỉ chọn một số ký giả trong và ngoài nước có hiểu biết sâu rộng để quan hệ mà thôi. Như tôi đề cập ở kỳ trước, ở Sài Gòn thời chống Mỹ không có ký giả nào xuất sắc hơn Phạm Xuân Ẩn. Ông không chỉ nổi tiếng về những thông tin thời sự nóng bỏng, về các bài phân tích quân sự chính trị sắc sảo mà còn am tường về chiến sự đến mức tất cả các bản đồ diễn biến chiến sự giờ chót trên báo TIME đều do ông vẽ. Vì vậy, không có gì khó hiểu khi ông có quan hệ quen biết với các quan chức tình báo nước ngoài. Mối quan hệ giữa ông với các chính khách, tướng lãnh quân đội Sài Gòn cũng ngày càng mật thiết. “Người nào cần gì thì mình giúp. Chẳng hạn khi ra tranh cử, khi được mời vô chính quyền, họ hỏi tôi, tôi phân tích lợi hại để họ quyết định. Ngược lại tôi cần gì họ đều giúp lại”, ông nói đại thể.

Tôi tò mò: “Ông quen W.Colby (sau này là trùm CIA) từ khi nào ?”.

“Ông ta sang đây từ 1959, thân với ông Nguyễn Thái (Tổng giám đốc Việt tấn xã). Tôi quen qua sự giới thiệu của ông Nguyễn Thái. Bí thư của Colby tôi cũng quen”, ông không chỉ quen biết ông Colby mà còn quen với các quan chức tình báo Anh, tình báo Pháp, Nam Triều Tiên, Đài Loan… Tôi không hỏi những hoạt động nghiệp vụ của ông, vì dù ông có nói tôi cũng không hiểu, vả lại nhiều việc trong đó cũng thuộc loại “sống để bụng, chết mang theo”.

Phan Huy Quát 
  1. Mặc dù rất thận trọng nhưng không ít lần ông “gặp nguy” trong chính nghề báo của mình, ông nhớ lại hồi bác sĩ Phan Huy Quát làm thủ tướng chế độ Sài Gòn sau khi đảo chính, lúc đó Nguyễn Khánh đã bị hạ bệ. Ông Quát là người được Mỹ chọn. Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ còn trong Hội đồng tướng lãnh đạo quân sự, chưa nắm chính quyền. Ông cùng một đồng nghiệp viết một bài đăng trên tờDiễn đànNew Yorkđưa một thông tin giật gân: “Phan Huy Quát sẽ bị Hội đồng tướng lãnh thay thế, cho thôi chức thủ tướng…”. Ông bị Tổng nha cảnh sát gọi vào hỏi đi hỏi lại rất nhiều lần: “Nguồn tin nắm được từ đâu? Có nhóm nào hỗ trợ mà dám viết như vậy?”. Ông giải thích rằng, qua phân tích và nói chuyện với nhiều người, trong đó có các thành viên Hội đồng tướng lãnh mà ông có được thông tin đó. Sau cùng, họ cũng lơ đi, và đề nghị ông cứ viết bài nhưng phải cho họ biết trước khi viết, đổi lại, họ hứa sẵn sàng giúp đỡ ông. Quả đúng như dự đoán, Phan Huy Quát bị cho thôi chức thật. Nguyễn Văn Thiệu lên làm Chủ tịch Ủy ban lãnh đạo quốc gia (ngang tổng thống), Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch Ủy ban Hành pháp trung ương (ngang thủ tướng). “Lần đó tôi phải báo ra khu đề nghị ngừng hoạt động một thời gian. Hú hồn!”.
  2. Là một ký giả, ông thường đi quan sát chiến trường, nhưng việc đi chiến trường có giúp ích gì cho một nhà tình báo chiến lược ?

Ông kể, khi ông đọc cuốn sách Reporter Trade do anh em hai nhà báo Mỹ nổi tiếng là J. Alsop và S. Alsop làm cho tờ Newsweek viết dành cho ký giả, ông giật mình : “Chết mẹ rồi, mình đang làm một ký giả chiến trường, thế là sai. Làm ký giả chiến trường thì vô cùng nguy hiểm mà không có lợi gì lắm cho việc nghiên cứu chiến lược theo nhiệm vụ cấp trên giao”. Nhưng ông nói khi đọc cuốn Roors of Strategy (nhiều tác giả), trong đó nhà quân sự lỗi lạc Pháp thống chế Maurice de Saxe (1696 – 1750), người làm trung đoàn trưởng năm 16 tuổi, lại khẳng định rằng nghiên cứu chiến lược cũng phải biết chiến thuật, ông Maurice rút ra điều đó từ cuộc chiến tranh Pháp – La Mã. Lúc đó quân đội Pháp chết vì bệnh quá nhiều. Còn quân đội La Mã lại ít khi chết bệnh.

Đích thân Maurice đi nghiên cứu và hiện ra quân đội La Mã khi uống nước có pha một chút giấm để chống độc, còn quân đội Pháp thì không biết cái đó. Cho nên, không biết chiến thuật, không biết thực tế, thì không nghiên cứu chiến lược được. Ông Ẩn kể lại điều đó và kết luận: “Nên lâu lâu tôi vẫn phải theo lính Mỹ – Việt hành quân để sát thực tế”.

Kỳ 9: Nhiệm vụ nặng nề

Đăng Bởi Một Thế Giới – 09:28 17-05-2015

Phạm Xuân Ẩn (bìa phải) trong dịp nhận danh hiệu Anh hùng năm 1976 cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp – ảnh: Tư liệu cá nhân của Phạm Xuân Ẩn

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn khốc liệt nhất. Phạm Xuân Ẩn phải tìm hiểu những ý đồ của các cơ quan đầu não chiến tranh của địch, việc bố trí quân, các ảnh hưởng chính trị, kinh tế, xã hội, các ý đồ quân sự của địch ở Đông Dương… “. Thời gian này nhiệm vụ của tôi được giao rất nặng nề”, ông nhớ lại…

1.Mc Culloch, trưởng đại diện Báo TIME thời ông Ẩn làm việc cho báo này, tuyên bố:“Tôi không bao giờ giận ông Ẩn”. Mc Culloch viết:

Bởi nếu như tình thế đảo ngược, nếu như hàng trăm ngàn người Việt Nam xâm chiếm đất nước tôi, tôi cũng sẽ làm như ông Ẩn đã làm. Ông là một người bạn tốt và đáng kính trọng” (theo Nguyễn Thị Ngọc Hải, sách đã dẫn).

Còn Morley thì viết: “Những gì anh đã làm trong quá khứ, cho dù anh là người thế nào, Ẩn vẫn là con người của nhân cách đáng kính trọng, vẫn tin tưởng ở sứ mạng vẻ vang của đất nước nhỏ bé của mình. Tôi không nghĩ anh là một người cộng sản mặc dù anh vẫn là một đảng viên trung thành… Không, tôi cho rằng Ẩn là một người yêu nước, trong số rất ít những người như thế mà tôi được biết” (sách đã dẫn).

 

Ông Phạm Xuân Ẩn (ảnh chụp 1974) 

Những người bạn Mỹ vừa hiểu ông, vừa không hiểu. Họ hiểu ông là người yêu nước, nhưng họ vẫn mơ hồ không hiểu vì sao ông là người cộng sản. Thực tế là trong cuộc kháng chiến chống Pháp, rồi chống Mỹ, tất cả những người yêu nước đều chiến đấu dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản, đều được Mỹ và chính quyền Sài Gòn gọi chung là “Việt cộng”.

Điều đó có cội nguồn từ khi Bác Hồ tìm đường cứu nước, Bác nói Quốc tế hai, Quốc tế ba hay Quốc tế hai rưỡi Bác đều không quan tâm mà chỉ quan tâm đến Quốc tế nào giúp dân tộc Việt Nam con đường cứu nước có hiệu quả. Bác đã chọn Quốc tế ba(Quốc tế cộng sản) và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên là vì vậy (theoNhững mẩu chuyện trong đời hoạt động của Hồ Chủ tịch của Trần Dân Tiên). Yêu nước thì phải làm cộng sản, đối với đa số người Việt Nam là một thực tế hiển nhiên, nhưng đối với nhiều người nước ngoài điều này vẫn còn là một bí ẩn chưa được giải mã.

  1. “Ông được thưởng 4 Huân chương chiến công. Một là thưởng cho trận Ấp Bắc, còn 3 Huân chương khác được thưởng vì những chiến công gì ?”.

Ông Ẩn: “Tôi không biết. Cả Huân chương của trận Ấp Bắc tôi cũng chỉ nghe nói lại. Tôi cũng không phải làm báo công. Mọi thứ do các ổng làm, sau này tôi mới nghe là được thưởng”.

Trong bản tóm tắt thành tích được in công khai khi ông được phong Anh hùng chỉ ghi:“Trong công tác, Nguyễn Văn Trung (tên ông Ẩn lúc phong Anh hùng) đã khôn khéo, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo bám chắc địa bàn, lập nhiều thành tích xuất sắc. Đồng chí đã cung cấp kịp thời nhiều tài liệu nguyên bản có giá trị lớn…”. Với những thông tin như vậy không ai có thể hình dung ra các chiến công cụ thể của ông. Tôi chỉ mường tượng các chiến công đó qua các sự kiện.

“Người vẽ bản đồ chiến sự giờ chót trên Báo TIME” có thể không nhớ ra người mà ông mới gặp hôm qua, nhưng những chuyện chiến sự xưa vẫn còn nhớ rất kỹ. “Khi chế độ Ông Diệm đổ thì chiến tranh đặc biệt bị sập nguyên mảng. Vào năm 1964, chính quyền Sài Gòn lung lay. Mỗi tuần mất 1 tiểu đoàn, mỗi tháng mất 1 quận. Trận Bình Giã một trung đoàn của Sư đoàn 9 ngụy bị ta xóa sổ. Trận Dầu Tiếng một trung đoàn ngụy bị tiêu diệt, một trung đoàn tiếp viện cũng bị diệt luôn. Lúc ấy, các cố vấn Mỹ đề nghị về Ngũ Giác Đài: một là, thương lượng với Mặt trận dân tộc giải phóng để rút 23.000 quân cố vấn Mỹ; hai là. đưa quân chiến đấu sang đánh…”, ông nói như nói chuyện thời sự. Lúc ấy cấp trên yêu cầu ông theo dõi khả năng Mỹ rút quân hay đưa quân sang. Ông cung cấp kế hoạch Chiến tranh cục bộ của Mỹ về trên và báo chắc chắn Mỹ sẽ đưa quân sang.

Chiến tranh cục bộ chính thức bắt đầu từ giữa 1965 là loại hình chiến tranh xâm lược thực dân mới được tiến hành bằng lực lượng của quân viễn chinh Mỹ, quân một số nước phụ thuộc Mỹ (Nam Triều Tiên, Thái Lan, Philippines, New Zealand, Australia) và quân ngụy tay sai ở miền Nam, trong đó quân Mỹ giữ vai trò quan trọng và không ngừng tăng lên về số lượng và trang bị, nhằm chống lại các lực lượng cách mạng và nhân dân ta. Lính Mỹ có mặt ở miền Nam cuối 1964 là 26.000 tên, cuối 1965 tăng lên 200.000, đến cuối 1967 lên tới 537.000 tên. Đó là chưa kể 70.000 hải quân và không quân trên các căn cứ Mỹ ở Guam, Philippines, Thái Lan và hạm đội 7 cũng sẵn sàng tham chiến ở miền Nam”  (sách giáo khoa lịch sử lớp 12).

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn khốc liệt nhất. Phạm Xuân Ẩn phải tìm hiểu những ý đồ của các cơ quan đầu não chiến tranh của địch, việc bố trí quân, các ảnh hưởng chính trị, kinh tế, xã hội, các ý đồ quân sự của địch ở Đông Dương…

“Thời gian này nhiệm vụ của tôi được giao rất nặng nề”, ông nhớ lại.

Kỳ 11: Phạm Xuân Ẩn với những “kẻ thù anh em“

Phạm Xuân Ẩn là một trong những điệp viên hoàn hảo và có tư chất “bình đẳng giác” cao đẹp – vì ông không xem đối thủ của mình mãi mãi là những “kẻ thù không đội trời chung” mà là những “kẻ thù anh em” có thể ngồi đối ẩm trò chuyện bên nhau sau cuộc cờ tàn…

Phạm Xuân Ẩn trong một chuyến đi theo tướng Mỹ thị sát chiến trường. Ông Ẩn là người ngậm thuốc lá và đang ghi chép.

Có thể bạn quan tâm

Dẫn chứng trường hợp Cao Giao ở Đài Phát thanh Catinat:

Cao Giao (sau 30.4.1975) bị ghép tội “gián điệp CIA” và bắt biệt giam 4 tháng (từ 6.1978), tiếp đó chuyển đến khám Chí Hòa chung phòng với 72 tù nhân khác. Ở ngoài, Phạm Xuân Ẩn vẫn thường xuyên đến thăm gia đình Cao Giao, mang theo thực phẩm thuốc men để trợ giúp. Ẩn nói: “tôi cố gắng hết sức mình để chăm sóc gia đình Cao Giao trong khi ông ấy đang ở trong tù”. Mãn hạn, Cao Giao nói gì? Nói rằng:

– “Phạm Xuân Ẩn là một kẻ lý tưởng hóa bị vỡ mộng và (bị) lừa dối”!

Đáp lại, Phạm Xuân Ẩn ôn tồn bảo đại khái chủ nghĩa Cộng sản tuy không thành, nhưng vẫn là “giấc mộng đẹp”. Khi biết Phạm Xuân Ẩn hoạt động tình báo cho Cộng sản Việt Nam“Cao Giao cũng bỏ qua cho Phạm Xuân Ẩn, bởi vì (như Cao nói): “chúng tôi là người Việt Nam” anh em(Larry Berman – Điệp viên hoàn hảo – NXB Thông Tấn 2007, tr.401).

Trường hợp khác : Theo Larry Berman (sđd tr.398), Nguyễn Xuân Phong (bạn Phạm Xuân Ẩn) từng nằm trong nội các chính quyền Sài Gòn “giữ chức Bộ trưởng phụ trách đàm phán ở Paris” – đã quyết định về lại Sài Gòn vào giai đoạn hấp hối của chính quyền VNCH (25.4). Ông Phong chấp nhận mọi rủi ro đang chờ đợi, chỉ vì ông không thể bỏ cha mẹ già yếu của mình chưa được di tản. Cũng chính vì chữ hiếu mà ông Phong cám ơn và từ chối lời mời của đại sứ Mỹ Graham Martin để không phải ra đi một mình (bỏ lại song thân).

Khi Quân giải phóng tiến chiếm Sài Gòn, Nguyễn Xuân Phong đã ra trình diện chính quyền cách mạng theo mệnh lệnh của tướng Trần Văn Trà rằng: “tất cả các quan chức của chế độ cũ từ cấp đứng đầu ngành, các sĩ quan thuộc các lực lượng vũ trang từ cấp trung tá trở lên phải ra trình diện để đi học tập cải tạo tập trung 30 ngày, từ tháng 5 đến hết tháng 6 (1975). Các viên chức và sĩ quan quân đội còn lại sẽ học tập cải tạo thời gian 7 ngày tại địa phương nơi họ cư trú”. Và: “cứ mỗi ngày trôi qua, bạn bè của Phạm Xuân Ẩn lại biến mất dần để đi học tập”.

Rồi “sau khi đã kết thúc 30 ngày, Nguyễn Xuân Phong và bao người khác vẫn chưa được trở về nhà, mặc dù lệnh của tướng Trần Văn Trà là chỉ tập trung học tập thời gian 30 ngày. Sở dĩ có thay đổi này vì một số cán bộ từ Hà Nội mới vào miền Nam đã xem xét lại mệnh lệnh của tướng Trần Văn Trà, cho dù ông Trà không tán thành. Nguyễn Xuân Phong nhớ lại: “Chúng tôi được giảng giải rằng, chúng tôi có lỗi lầm là chống lại Tổ quốc (người ta không dùng cụm từ “những kẻ phản bội tổ quốc”) – nhưng chúng tôi được giải thích cho hiểu một cách rõ ràng rằng chúng tôi đã có tội tiếp tay cho Mỹ – đế quốc xâm lược kiểu mới, dẫn đến sự chết chóc và hủy hoại đối với người Việt Nam và dân tộc Việt Nam. Chúng tôi không được biết liệu có bị đưa ra xử trước tòa án hay không, hay là nếu xử án thì xử trên cơ sở nào, hoặc tội như vậy thì bị tù trong bao lâu, hay là thời gian giam giữ chúng tôi được xác định như thế nào, theo từng cá nhân hay tập thể”. Không biết!

“Cuộc hành trình đi vào thế giới “không biết” của Nguyễn Xuân Phong bắt đầu từ nhà tù Thủ Đức tháng 6.1975. Tại đây, Phong phải chung phòng giam với 20 người khác. Sau vài tuần, các tù nhân được lệnh ra tập trung ngoài sân, bị xích từng đôi một rồi đưa lên một chiếc xe tải quân sự để ra phi trường. Sau đó, họ được chở đến sân bay Gia Lâm, rồi chuyển tiếp đến Trại A15 vẫn được coi là cơ sở phụ của “Hilton Hà Nội”. Trại này cách Hà Nội 50 km và trước kia từng là nơi giam giữ nhiều tù binh Mỹ. Nguyễn Xuân Phong và 1.200 bạn tù phải ở trong trại đó cho đến khi nào được phép trở về. Đối với trường hợp của Nguyễn Xuân Phong, ngày được trở về là tháng 12.1979; còn nhiều người khác, ngày trở về là 10 hoặc thậm chí 15 năm sau”. (Larry Berman, sđd. tr.398)

Từ ngày ra tù (1979) đến suốt 20 năm sau (Nguyễn Xuân Phong kể): “Phạm Xuân Ẩn và tôi thường gặp nhau mỗi tuần vài lần. Hầu hết những lần gặp nhau đó, chúng tôi ngồi uống cà phê bên đường phố Đồng Khởi (đường Tự Do cũ) để thư giãn và cũng để quên đi quá khứ. Thậm chí, các nhân viên an ninh (chế độ mới) chụp ảnh chúng tôi, họ cố gắng tìm hiểu xem chúng tôi đang trao đổi gì !” (Larry Berman, sđd. tr.411).

Với mối tương giao rộng rãi, Phạm Xuân Ẩn làm bạn với các nhân vật như Cao Giao và Nguyễn Xuân Phong kể trên và nhiều tướng lĩnh VNCH khác, cùng các nhà báo nổi danh đương thời như David Halberstam hoặc Sheehan, kể cả người đứng đầu của cơ quan tình báo Mỹ CIA như William Colby (sau 1975, Colby đã hai lần sang Việt Nam và cả hai lần đều đề nghị được gặp Phạm Xuân Ẩn). Nhờ mối giao tiếp đặc biệt trên, Phạm Xuân Ẩn đã nắm được những “tin tức đầu nguồn” từ Tòa đại sứ Mỹ, Phủ Tổng thống, Phủ Thủ tướng, Bộ Tổng tham mưu Quân đội VNCH, Bộ Tư lệnh Cảnh sát quốc gia, Phủ Đặc ủy trung ương tình báo của chính quyền Sài Gòn, nắm cả bản báo cáo bí mật của Viện Nghiên cứu Chiến lược quân đội (VNCH) do tướng Nguyễn Xuân Triển làm giám đốc Viện (chỉ đạo biên soạn và đúc kết) với xác định có tầm sinh tử rằng: “Ban Mê Thuột là điểm yếu của Tây Nguyên trong hệ thống phòng thủ chiến thuật của quân đội Sài Gòn nên rất dễ bị tấn công và chọc thủng”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá rất cao các báo cáo đại thể như trên (của Phạm Xuân Ẩn). Nhưng đến 30.4, Phạm Xuân Ẩn vẫn“chưa nói được” về thân phận mình, để – như lời ông – vẫn phải “sống trong cô đơn và ngờ vực”. Mãi vài tuần sau, một đặc vụ của cách mạng phái đến gặp ông để nói một câu gọn lỏn:

– “Phạm Xuân Ẩn, ông thì OK !” (?)

Kỳ 12: Tướng Phạm Xuân Ẩn giải thích lý do cứu Trần Kim Tuyến

Đăng Bởi Một Thế Giới – 05:12 19-05-2015

Dương Văn Minh, Tổng thống cuối cùng của chế độ Việt Nam Cộng hòa, chuẩn bị đọc lời tuyên bố đầu hàng – ảnh tư liệu

Chuyến bay di tản cuối cùng này của CIA diễn ra tại tòa nhà trên đường Gia Long, chiều 29.4.1975. Ông Ẩn đã hướng dẫn cách thức lên máy bay cho Trần Kim Tuyến trùm mật vụ Sài Gòn. Nhưng lúc này quá muộn, cửa đã đóng kín…

Có thể bạn quan tâm

>> Sát thủ 20 tuổi xả súng giết chết 13 người, bị thương 20 người khác tại Mỹ

>> Bài 2: Lừa dối khách hàng, TMV Kangnam liên kết với đối tác ảo ở Hàn Quốc

>> Ông Phó TGĐ “lĩnh lương gần 1 tỉ mỗi năm mà không kiếm được xu tài trợ nào” lên tiếng

  1. Ông Ẩn kể tiếp: “Tôi yêu cầu người lính cho tôi gặp ông Polgar (Trưởng nhiệm sở CIA ở Sài Gòn, là người quen của ông Ẩn), nhưng anh ta dứt khoát không chịu, anh ta không tin tôi quen với Polgar. Chính lúc đó vợ người lính Nùng – đi chợ về, anh ta phải mở cửa cho vợ vào. Nhanh như chớp, tôi một tay giữ cửa, tay kia đẩy ông Tuyến vào luôn. Ông Trần Văn Đôn (trung tướng chế độ Sài Gòn) cũng đi trên chuyến bay đó, sau này đọc bài của ông Đôn trên báo chí nước ngoài tả lại, tôi biết ông Tuyến là người cuối cùng lên máy bay”.

Câu chuyện này được báo chí nước ngoài bàn tán rất dữ. Tờ Newsweek đăng bài miêu tả sự kiện này với lời bình luận: “Thế là vị trùm mật vụ Sài Gòn đã được một điệp viên Hà Nội cứu thoát”.

Nhiều nhà báo nước ngoài đến Việt Nam gặp lại Phạm Xuân Ẩn cũng không bỏ qua chi tiết đó. Họ không thể tự lý giải được nguyên nhân của sự kiện được coi vào loại chuyện lạ lùng nhất này của chiến tranh, nên họ đoán già đoán non rằng khi cứu thoát Trần Kim Tuyến, chắc ông Ẩn sẽ bị cấp trên làm khó dễ. Và sự đoán già đoán non này có vẻ như được củng cố khi họ thấy sau giải phóng Phạm Xuân Ấn không giữ một chức vụ quan trọng nào.

 

 Cuộc di tản trên nóc tòa nhà Đại sứ quán Mỹ tại Sài Gòn, ngày 30-4-1975. ảnh: Tư liệu 
  1. Và chính tôi cũng tò mò. Tôi phỏng vấn ông:

Thực ra trong chuyện này ông có bị cấp trên làm khó dễ không?

Hoàn toàn không.

Nghĩa là ông đã xin ý kiến cấp trên trước?

Không. Tự tôi làm việc đó.

Nhưng Trần Kim Tuyến là kẻ thù của cách mạng ?

Tất nhiên rồi. Báo chí nước ngoài cũng hỏi tôi như vậy. Tôi nói hết chiến tranh rồi thì không nên coi là kẻ thù.

Sau khi sự việc diễn ra ông có báo cáo với cấp trên không ?

Không. Tôi nghĩ đây không phải là việc quan trọng phải báo cáo. Khi giải phóng, an ninh của ta tìm bắt Trần Kim Tuyến, có người bảo: “ông Ẩn đã đưa Tuyến đi rồi, còn đâu mà bắt”. Người Việt Nam ta vốn có truyền thống nhân đạo, khi bị xâm lăng thì đánh đến cùng nhưng hết chiến tranh không trả thù ai.

Tổ chức có yêu cầu ông giải thích không ?

Không. Không có bất cứ ai đề cập đến việc này.

Ngoài ông Tuyến, ông có còn đưa ai đi nữa không ?

Có. Trước đó mấy ký giả báo Trắng Đen có nhờ tôi đưa một số người đi, toàn là đại tá, trung tá. Ngoài ra, tôi cũng giúp nhiều người khác nữa đi di tản. Có người tôi đưa đi, có người tôi chỉ cách đi.

Cấp trên cũng không ai nói gì ?

Không.

Sau giải phóng, ông Trần Kim Tuyến có liên lạc gì với ông không ?

Mấy ký giả nước ngoài viết về tôi có sang gặp ổng. Họ bảo, cả hai người ông tin nhất là Phạm Ngọc Thảo và Phạm Xuân Ẩn đều là cộng sản, ông thua là đúng rồi. Tôi nghe nói ông Tuyến nghe rồi lặng thinh không nói gì. Trước khi vợ ổng chết, ổng có báo tin cho tôi biết. Ông Tuyến thuộc loại mê vợ nhất trên đời. Vợ chết, 7 tháng sau ổng chết. Năm 1995, chừng 2 tuần trước khi Việt Nam và Mỹ bình thường hóa quan hệ ngoại giao.

 

Quân giải phóng đánh chiếm căn cứ không quân Tân Sơn Nhất sáng 30/4/1975 
  1. Phạm Xuân Ẩn không những không bị làm khó dễ mà ngay sau giải phóng ông được phong danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, sau đó được phong quân hàm thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông mới chính thức được nghỉ ngơi tháng 3 năm 2002, khi đã 75 tuổi, nhưng vẫn chưa nghỉ hẳn. Làm cách mạng là để giải phóng đất nước, giành độc lập cho dân tộc. Khi đất nước được giải phóng, khi “ hết đánh nhau rồi thôi”, cách mạng đã không hề trả thù ai. Đó là sự thật lịch sử. Hiểu được tầm vóc cuộc cách mạng này mới hiểu được cách xử sự quang minh chính đại của ông Ẩn và của cấp trên ông Ẩn.

Kỳ 13: Phạm Xuân Ẩn: Triệu phú thời gian?

Đăng Bởi Một Thế Giới – 10:00 07-05-2015

Sư kiện: Sự kiện lịch sử 30.4: Nhìn từ nhiều phía

Thu Nhàn (vợ của nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn) ngồi giữa các phóng viên Reuters là Nick Turner và Peter Smark. Ảnh trong cuốn X6 – Điệp viên hoàn hảo.

Phong Anh hùng xong, Phạm Xuân Ần được đưa đi học một khóa “bồi dưỡng chính trị” vì nhiều lý do, trong đó một phần bởi “ông đã sống quá lâu với… người Mỹ”!

Có thể bạn quan tâm

>> Sát thủ 20 tuổi xả súng giết chết 13 người, bị thương 20 người khác tại Mỹ

>> Bài 2: Lừa dối khách hàng, TMV Kangnam liên kết với đối tác ảo ở Hàn Quốc

>> Ông Phó TGĐ “lĩnh lương gần 1 tỉ mỗi năm mà không kiếm được xu tài trợ nào” lên tiếng

         Ông vẫn còn “khâm phục người Mỹ” dầu Mỹ đã “thua cuộc”. Ông nói với Larry Berman – giáo sư khoa học chính trị trường Đại học California – Davis, được ông chọn để chính thức viết về những hồi ức do chính ông kể, rằng:

– “Tôi đã sống và làm việc với người Mỹ trong thời gian rất dài. Tôi biết họ là những người tốt (…) tôi chẳng có lý do gì để ghét người Mỹ, cũng giống như những người Mỹ biết tôi chẳng có lý do gì để ghét tôi” (Điệp viên hoàn hảo, Larry Berman, Nguyễn Đại Phượng dịch, sđd Kỳ 11, tr. 466).

Những phát biểu đại khái như trên khiến Hà Nội thấy cần phải “giúp” Phạm Xuân Ẩn“lập trình lại tư duy”. Nên, họ đã đưa ông vào Học viện chính trị cao cấp ở Hải Dương (gần Hà Nội) trong 10 tháng (từ 8.1978 đến 6.1979) để có dịp “học hỏi” về chủ nghĩa Mác Lênin.  Ông cũng vui vẻ, nói thẳng:

– Tôi cần phải đến đó (…) Tôi hiểu nhiều về hệ thống Mỹ hơn là hệ thống này (xã hội chủ nghĩa) do vậy tôi cần phải đọc tất cả các sách kinh điển về lối tư duy kinh tế Nga...

Dầu hết sức chân thành và cố gắng, nhưng sau khóa học ông vẫn tồn đọng nhiều “khó khăn trong quá trình hòa nhập với chế độ mới”. Vì:

“Chế độ mới” vẫn đang còn “những vấn đề” nghi vấn (về tướng tình báo của mình), thể hiện rõ trong mỗi lần có người bạn cũ nào ở Mỹ đến TP. Hồ Chí Minh muốn thăm ông, các quan chức (nội vụ và ngoại vụ) đều viện lẽ ông “không muốn gặp”. Hoặc “không có mặt trong thành phố”. Như trường hợp của Dan Southerland (1982) và Stanley Karnow (1981)… Thực ra, ông rất muốn gặp và chẳng đi đâu xa – mà đang nằm “đọc sách” ở Sài Gòn…

Khoảng thời gian ấy, Phạm Xuân Ẩn không có sự lựa chọn nào khác, ngoài đảm nhận vai trò “ẩm thực” – tự nhận mình là “một ông chồng nội trợ”! Ông cũng “tự trào” ví mình là một “triệu phú”, nhưng là “triệu phú thời gian” (bởi ông rất rảnh). Không phải nhà nước không giao việc, nhưng gồm những lĩnh vực không phù hợp với “tâm” ông. Ví như mời tham gia cơ quan kiểm duyệt, hoặc đào tạo các nhà báo Cộng sản trẻ, ông đều từ chối để “suốt ngày đọc sách, nghe đài BBC và làm những việc lặt vặt cho vợ” –dư thời giờ ra thì… nuôi gà chọi! (Larry Berman – sđd tr.410).

Mãi đến năm 1988, khi ngọn gió đổi mới đã thổi tan đi ít nhiều những đám mây mù trong quan hệ Việt Nam với Mỹ, lần đầu tiên cơ quan an ninh cho phép Phạm Xuân Ẩn gặp Bob Shaplen (bạn cũ) với điều kiện “có một thành viên của Bộ Ngoại giao cùng dự”. Sau cuộc gặp, ông “kiến nghị” để mình với Bob Shaplen “đi ăn tối riêng” tại khách sạn Majestic và được Bộ Ngoại giao đồng ý. Ông nói:

– Đó là lần đầu tiên tôi được phép nói chuyện một mình với một người bạn cũ kể từ khi chiến tranh kết thúc (13 năm sau ngày 30.4 – GH). Tôi không muốn buổi tối hôm đó tan sớm. (sđd tr. 417).

Tin Phạm Xuân Ẩn được “nới lỏng tiếp xúc”, một số bạn cũ của ông liền tìm đến thăm, như Nei Sheehan, Stanley Karnow, Robert Sam Anson… Trong số đó, Safer đã đặt câu hỏi “khá nhạy cảm” về nguyên do nào đã dẫn đến tình trạng trầm kha của cuộc“cách mạng kinh tế” đương thời. Phạm Xuân Ẩn đáp đại ý: không phải những nhà lãnh đạo (của Đảng CSVN) là những người độc ác, nhưng tác động của chủ nghĩa gia trưởng và lý thuyết kinh tế lỗi thời mà họ vẫn đeo bám, đã dẫn đến hậu quả đau lòng…

Nghe vậy, Safer mạnh dạn hỏi:

– Ông có sợ về việc đã nói thẳng thắn như vậy không ? Có nguy hiểm gì cho ông không?      – Tôi công khai nói điều đó. Tôi đã già quá đến mức không thể thay đổi được nữa. Tôi đã quá già đến mức không thể im lặng được nữa (Larry Berman, sđd tr. 426).

Cuối cùng, Safer hỏi Phạm Xuân Ẩn có hối tiếc điều gì về “quá khứ” không ?

Phạm Xuân Ẩn khẳng khái:

– Tôi ghét câu hỏi đó. Tôi đã tự hỏi mình câu hỏi đó cả ngàn lần. Nhưng câu trả lời còn làm cho tôi ghét hơn. Không! Tôi không có gì phải hối tiếc. Tôi phải làm điều ấy. Tôi yêu nước Mỹ, nhưng Mỹ chẳng có quyền gì ở đây…

Cuộc trò chuyện trên được Safer công bố trong một tài liệu xuất bản tại Mỹ. Để sau đó, nhà nước Việt Nam bắn tin với Phạm Xuân Ẩn: (sđd, tr. 427).

– “Cám ơn. (Hãy) về nhà, đọc sách và giữ im lặng !

Song ông vẫn “không im lặng”. Vẫn tiếp tục nói tốt về người Mỹ, khi cần:

– Đảng dạy tôi những điều về hệ tư tưởng. Từ người Mỹ, tôi học được những điều quan trọng khác về nghề báo và phương pháp tư duy. Đó là điều tôi muốn con mình cũng học được như vậy. Tôi muốn con trai tôi có bạn là những người Mỹ.

Và thêm:

– Suốt cuộc đời mình tôi chỉ có hai trách nhiệm. Một là nghĩa vụ của tôi đối với Tổ quốc.Hai là trách nhiệm của tôi đối với những người bạn Mỹ.

Sau những phát biểu ấy, điều bất ngờ gì đã xảy đến với ông?

Kỳ 14: Bài báo cuối cùng của Phạm Xuân Ẩn trên tạp chí Time

Đăng Bởi Một Thế Giới – 07:36 09-05-2015

Sư kiện: Sự kiện lịch sử 30.4: Nhìn từ nhiều phía

Ảnh Phạm Xuân Ẩn đứng trước tòa thị chính Sài Gòn in trên tạp chí Time

Đó là bài được Phạm Xuân Ẩn phát đi bằng telex (từ Sài Gòn) đến trụ sở chính của tạp chí Time ở Mỹ (New York) và Time lập tức đăng trên số báo ra ngày 12.5.1975…

Có thể bạn quan tâm

>> Sát thủ 20 tuổi xả súng giết chết 13 người, bị thương 20 người khác tại Mỹ

>> Bài 2: Lừa dối khách hàng, TMV Kangnam liên kết với đối tác ảo ở Hàn Quốc

>> Ông Phó TGĐ “lĩnh lương gần 1 tỉ mỗi năm mà không kiếm được xu tài trợ nào” lên tiếng

Gần như thời điểm đó, đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đáp máy bay từ Hà Nội vào Sài Gòn để gặp tướng Trần Văn Trà (Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, Chủ tịch Ủy ban quân quản Sài Gòn – Gia Định) trong phòng Đại yến của dinh Độc Lập.

Cách dinh Độc Lập không xa lắm, Phạm Xuân Ẩn – người trải nhiều năm bí mật cung cấp tin tức và tài liệu tình báo chiến lược hữu hiệu cho tướng Giáp lẫn tướng Trà – vẫn đang ngồi một mình đăm chiêu, tại khách sạn Continental, trong văn phòng thường trú của tạp chí Time đặt ở đó.

Do Hà Nội chưa công bố danh phận điệp viên của mình, nên Phạm Xuân Ẩn không tránh khỏi nhiều phiền phức bởi một số biện pháp “quân quản” do chính những người đồng chiến tuyến với ông gây ra. Oái oăm là, lúc đó, không một ai giúp sức – ông phải tự mình xoay xở đơn độc – rơi vào tình cảnh cùng lúc hoạt động “đơn tuyến” hai chiều cho Time và cho cách mạng. Ông điện về New York: “Tất cả các phóng viên Mỹ (của Time) đã di tản vì tình trạng khẩn cấp. Văn phòng tạp chí Time hiện nay do Phạm Xuân Ẩn điều hành”. Nội dung trên được Time thông báo cho các chi nhánh toàn cầu biết, kèm theo “tấm ảnh Phạm Xuân Ẩn đang đứng trên một đường phố không người, hút thuốc lá và trông có vẻ thích gây gổ” (Larry Berman, sđd Kỳ 11, tr.395).

Sau này, Phạm Xuân Ẩn kể để nhà sử học nổi danh Larry Berman viết cuốn “Perfect Spy – Cuộc đời hai mặt không thể tin được của Phạm Xuân Ẩn – phóng viên tạp chí Time và điệp viên Cộng sản Việt Nam”, biên soạn công phu trong 5 năm, có ghi lại lời nói của Phạm Xuân Ẩn về những ngày cuối cùng trong “nghiệp làm báo” của mình:

– Tất cả chỉ có một mình tôi (ở văn phòng Time tại Sài Gòn – GH), trừ người giám sát (cán bộ cách mạng được phái đến để theo dõi thường trực các hoạt động nghề nghiệp của Phạm Xuân Ẩn – GH). Ông ta không phải là người khó tính, nhưng là một người kiểm duyệt khắt khe. (Larry Berman, sđd tr. 395)

“Khắt khe” để mắt đến từng trang giấy “có chữ”, vì thế suốt nhiều tuần sau 30.4, Phạm Xuân Ẩn “chẳng có tin bài nào được gửi đi”. Tuy vậy, bù lại, Time cũng đã nhận được bài báo cuối cùng của ông và đăng trên số ra ngày 12.5 như đã nói trên – mà Larry Berman trích lại một đoạn khá dài và đáng đọc (sđd tr. 396-397). Đáng đọc, bởi đoạn ấy có giá trị mô tả chân thực cảnh hỗn loạn khi Sài Gòn bị thất thủ và ghi nhận lời hứa hẹn “an dân” của chính quyền cách mạng, rằng: sẽ thiết lập một chế độ chính trị “trung lập và không liên kết” cho riêng miền Nam Việt Nam. Nguyên văn đoạn trích (Nguyễn Đại Phượng dịch):

“Hình ảnh cuối cùng về cuộc chiến tranh:

“Những người lính thủy đánh bộ Mỹ dùng báng súng giáng xuống những ngón tay của nhiều người Việt Nam đang cố bám tường tìm cách vào được bên trong khuôn viên tòa đại sứ Mỹ để chạy trốn khỏi đất nước họ. Một không khí lộn xộn, bừa bãi chẳng khác nào cảnh mô tả trong kinh Khải huyền.

“Một số “kẻ cướp ngày” lái những chiếc xe hơi của sứ quán bỏ lại chạy như điên quanh thành phố cho đến khi hết sạch xăng. Một số kẻ khác vào lục soát Siêu thị PX Tân cảng Sài Gòn vốn được coi là giấc mơ (là mô hình thương mại lý tưởng thời ấy – GH), rập khuôn theo vùng ngoại ô của Mỹ. Một người phụ nữ đội hai thùng rượu anh đào và một thùng kẹo cao su Wrigley Spearmint…

“ Ngoài khơi, những chiếc máy bay trực thăng trị giá hàng triệu đô la bị lật nhào khỏi boong tàu (cứu hộ Mỹ) một cách lãng phí, chẳng khác nào việc ném đi những lon bia (đã uống hết) để lấy chỗ cho những chiếc máy bay trực thăng khác sắp đáp xuống.

“Cuối cùng, Việt Cộng và những người Bắc Việt Nam đổ vào Sài Gòn, kéo cờ của Chính phủ Cách mạng lâm thời, bắt giữ tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh và thủ tướng Vũ Văn Mẫu. Đối với nhiều người Mỹ, điều đó giống như một cái chết đã được chờ đợi từ lâu, nhưng khi xảy ra thì người ta vẫn cảm thấy bị sốc.

“Một cuộc chiến tranh dài nhất của thế kỷ đã kết thúc bằng đợt di tản hiệu quả, nhưng nhục nhã. Đó là sự kết thúc giống như một cơn ác mộng. Không, có thể còn tồi tệ hơn cả cơn ác mộng nữa. Chỉ có rất ít lính Việt Nam Cộng hòa nổ súng vào những người Mỹ đang di tản, nhưng chẳng trúng phát nào. Ít nhất thì người Mỹ cũng đã gây ra cảnh tượng khủng khiếp cuối cùng về “người của mình đánh những người bạn” và “đồng minh của Mỹ đang chen lấn nhau (di tản)”. Mặc dù trên thực tế, người Mỹ đã tìm cách đưa khoảng hơn 120.000 người Việt Nam tị nạn ra đi với họ.

“Có lẽ đúng hơn phải nói rằng, cuộc chia tay lần này của Mỹ đối với miền Nam Việt Nam là một “hành động duy nhất không ảo tưởng” trong suốt những năm chiến tranh.

“Những người cầm quyền mới ở miền Nam Việt Nam (Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam – GH) tuyên bố rằng họ sẽ quyết tâm thực hiện một chính sách hòa bình, độc lập, trung lập và không liên kết”.

Đọc bài báo cuối cùng trên của Phạm Xuân Ẩn do Time đăng, những người Mỹ có lương tâm phải “trầm lặng” ưu tư và trăn trở nhiều.

Kỳ 16: Cuộc đời tướng Ẩn qua hồi ức người chỉ huy tình báo trực tiếp

Đăng Bởi Một Thế Giới – 05:09 23-05-2015

Tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn và Giáo sư Larry Berman, người viết “Điệp viên Hoàn hảo X6” – nguồn: Tư liệu cá nhân Larry Berman

Thật bất ngờ thú vị khi biết các nhả báo được ông Mười Nho, Trưởng ban tình báo, phụ trách trực tiếp Phạm Xuân Ẩn cho biết: “Những tài liệu của Hai Trung gửi ra đều được trình lên Bác Hồ. Bác xem xong đưa trả lại cho cơ quan tình báo để giữ bí mật…” 

Có thể bạn quan tâm

>> Sát thủ 20 tuổi xả súng giết chết 13 người, bị thương 20 người khác tại Mỹ

>> Bài 2: Lừa dối khách hàng, TMV Kangnam liên kết với đối tác ảo ở Hàn Quốc

>> Ông Phó TGĐ “lĩnh lương gần 1 tỉ mỗi năm mà không kiếm được xu tài trợ nào” lên tiếng

“Hồi đó nhận được các tài liệu của Hai Trung (bí danh của Phạm Xuân Ẩn), Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương phấn khởi vô cùng. Thủ tướng Phạm Văn Đồng sung sướng cười ha hả, còn đại tướng Võ Nguyên Giáp thì nói:“Ta đang ở trong cơ quan đầu não chiến tranh của Mỹ rồi đây!”. Những tài liệu đó đều được trình lên Bác Hồ. Bác xem xong đưa trả lại cho cơ quan tình báo để giữ bí mật… Công của Hai Trung lớn lắm…” ông Mười Nho, với giọng Quảng Nam chất phác vui vẻ mở đầu câu chuyện khi tiếp chúng tôi tại nhà riêng trên đường Lê Văn Sỹ (quận Tân Bình, TP.HCM).

Gặp chúng tôi ông đã 78 tuổi nhưng vẫn khỏe mạnh và hoạt bát như thanh niên. Trước đó, khi liên lạc qua điện thoại, ông quy ước trước là ông chỉ nói chuyện về ông Ẩn còn chuyện của ông thì ông không nói (ông là một cán bộ tình báo chiến lược mà cuộc đời hoạt động cũng đầy những chuyện bí ẩn).

Hồi Phạm Xuân Ẩn đi Mỹ về nối lại liên lạc với tổ chức, lần đầu tiên lên căn cứ cách mạng ở Phú Hòa Đông vào đầu năm 1961. Cuộc gặp chỉ có 4 người: ông Sáu Dân (cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt) lúc đó là Bí thư Khu ủy Sài Gòn – Gia Định ( thường gọi là I4), ông Cao Đăng Chiếm, ông Mười Nho và người phục vụ duy nhất là ông Hai Thương (sau này là anh hùng). Ông Mười Nho lúc ấy làm Trưởng ban tình báo I4, là người phụ trách trực tiếp Phạm Xuân Ẩn.

(Ảnh Tư liệu) 

“Năm 1962 – ông Mười Nho nhớ lại – Hai Trung gửi 24 cuốn phim chụp nguyên bản toàn bộ các kế hoạch về chiến tranh đặc biệt của Mỹ, gồm kế hoạch chính của cuộc chiến và các tài liệu về xây dựng lực lượng quân đội, sự chi viện của Mỹ, kế hoạch xây dựng ấp chiến lược, kế hoạch tái chiếm các vùng đất đã được ta giải phóng, kế hoạch xây dựng quân đội Sài Gòn cùng các trang thiết bị quân sự của địch. Tiếp đó, Hai Trung cũng gửi toàn bộ những kế hoạch, những chiến dịch triển khai chiến tranh đặc biệt…

Trung ương đánh giá đây là những tài liệu vô cùng quý giá. Ngay từ đầu anh Sáu Dân nói với tôi: Mười Nho này, khả năng cậu Ẩn là tình báo cỡ quốc tế. Cậu làm thế nào thì làm, bằng mọi giá không được để bể liên lạc.

Ông Sáu Dân chỉ đạo 2 ý kiến đó, thứ nhất là đánh giá cao con người này, thứ hai là yêu cầu phải bảo toàn, tôi nghe cũng ớn chứ. Giỡn đâu được, ổng không làm tình báo nhưng ổng biết hết, ổng rút kinh nghiệm hầu hết các cơ sở tình báo của chúng ta đều bị địch phá hết, cứ bắt được tình báo của ta là đưa ra Chín Hầm, ông Mười Hương cũng bị bắt đưa ra ngoải”.

Ông Mười Nho vui vẻ nói tiếp: “Bố trí giao liên là cực kỳ quan trọng. Người giao liên đầu tiên cho Hai Trung là cô Tám Thảo, một cán bộ Hội Phụ nữ ở lại sau Hiệp định Geneve. Kế đó là một cậu thanh niên, chính tôi hướng dẫn liên lạc. Đầu tiên dùng một gốc cây làm hộp thư, thông báo trước cho Hai Trung biết, Hai Trung rất khôn, đi trước để quan sát cậu liên lạc, xem cậu ta hành động thế nào. Lần sau gặp tôi Hai Trung nói ngay: “Đổi người liên lạc, vì sẽ xảy ra hai khả năng, thứ nhứt là anh ta sẽ bị bắt lính, thứ hai là anh ta không phải dân thành phố, còn lúng túng lắm, rất dễ bị lộ.

Tôi báo cáo ngay với ông Sáu Dân. Ông Sáu Dân suy nghĩ một đêm, sáng hôm sau giới thiệu chị Ba và chị đã làm liên lạc cho Hai Trung từ đó cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, được phong anh hùng”.

“Tôi nhớ như in lần đầu tiên gặp Hai Trung. Hồi lên cứ năm 1961 Hai Trung cao to như thằng Mỹ chứ không phải ốm nhom như bây giờ đâu. Lên ở lại 3 hôm, anh Hai Trung ra rừng đốn tre làm 4 cái giường. Vạt giường tròn như ống thổi lửa, lấy dây rừng buộc vào nhau. Hai Trung hồi đó chưa có vợ, lại có tính nầm sấp, đang đêm nhảy dựng lên nói: các anh ác quá, may không tôi mất giống rồi! Té ra khi rục rịch trên giường, Hai Trung đã sơ ý để cái đó bị hai ống vạt giường kẹp cứng” – ông Mười Nho vừa kể chuyện hơn 40 năm trước vừa cười phá lên rất vui vẻ. Đủ thấy giữa ông với Hai Trung gắn bó vô cùng sâu đậm.

Dừng một lúc ông Mười Nho kể tiếp: “Tài liệu đầu tiên Hai Trung đưa về. Ông Sáu Dân phải điều một đồng chí đảng viên dạy Anh văn ở Sài Gòn ra dịch. Quý lắm, cho nên Trung ương Cục có trích ra đem phổ biến cho các ban ngành để chuẩn bị kế hoạch chiến đấu, tài liệu của Tuyên huấn Trung ương cục in ra cũng có trích dẫn.

Đem đi khu 9, cán bộ mình bị rớt ba lô, địch lấy được về Sài Gòn truy tìm xem ai có thể tiếp xúc được với những tài liệu tuyệt mật của Mỹ. Nhưng chúng đã nghi theo hướng khác. Hai Trung phải một phen hú vía…”

Kỳ 17: Phạm Xuân Ẩn thuộc cỡ nào

Đăng Bởi Một Thế Giới – 09:44 24-05-2015

Tác giả Larry Berman (trái) và Thiếu tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn tại TPHCM

Ông Mười Nho trực tiếp làm việc với ông Ẩn ở miền Nam đến năm 1965, sau đó ông ra Bắc. Ở Hà Nội, ông vẫn làm cán bộ chỉ đạo công tác tình báo chiến lược cho đến ngày giải phóng. Sau giải phóng, ông tham gia tổng kết công tác tình báo. Cho nên ông Mười Nho là một trong những người biết ông Ấn rõ nhất.

Có thể bạn quan tâm

>> Sát thủ 20 tuổi xả súng giết chết 13 người, bị thương 20 người khác tại Mỹ

>> Bài 2: Lừa dối khách hàng, TMV Kangnam liên kết với đối tác ảo ở Hàn Quốc

>> Ông Phó TGĐ “lĩnh lương gần 1 tỉ mỗi năm mà không kiếm được xu tài trợ nào” lên tiếng

Chính ông đã thống kê tất cả những thành tích của Phạm Xuân Ẩn. “Kết quả lớn lắm,cái mô (giọng Quảng Nam: cái nào) cũng quan trọng hết”, ông Mười Nho tiếp tục khẳng định.

” Nhiều nhà tình báo trên thế giới chỉ cần một hai cái báo cáo làm thay đổi cục diện chiến tranh, đã là vĩ đại. Đằng này Hai Trung có tới hàng chục cái như vậy”.

Ông Mười Nho

“Trong những năm sáu mươi, sáu mốt, sáu hai, sáu ba và đầu sáu tư, Trung ương biết rõ được tình hình địch chủ yếu qua các tài liệu của Hai Trung. Các thời kỳ sau, mình đã phát triển thêm nhiều lưới tình báo nhưng đóng góp của Hai Trung vẫn là cơ bản.

Khi Mỹ tiến hành chiến tranh cục bộ, Hai Trung cung cấp cho trên những tài liệu nguyên bản, báo trước toàn bộ các kế hoạch chiến tranh của Mỹ, nhiều cái còn nguyên dấu đỏ. Mỹ bây giờ nghe chuyện này sợ lắm!

Trong suốt thời kỳ này, Mỹ liên tục mở các chiến dịch quân sự lớn, tất cả đều được Hai Trung báo trước, hoặc bằng tài liệu cơ mật của địch hoặc bằng thông tin về ý đồ của địch. Quan trọng lắm !”, ông Mười Nho phấn chấn.

“Còn những thời kỳ sau đó ?”, tôi hỏi. Ông Mười Nho: “Như tôi đã nói, Hai Trung vẫn đáp ứng những yêu cầu cơ bản. Tất nhiên các đồng chí ở các lưới tình báo khác cũng cung cấp nhiều thông tin rất quan trọng, cũng đóng góp rất lớn.

 

Tất cả bổ sung cho nhau, giúp lãnh đạo đánh giá được thực chất tình hình địch. Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương phấn khởi lắm. Đánh giặc mà biết rõ được địch thì coi như thắng”. “Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, ông Hai Trung làm gì?”. “Thứ nhất là Hai Trung đã có những báo cáo quan trọng đánh giá tình hình, đánh giá thực lực của địch. Thứ hai là đánh giá khả năng nếu ngụy thua thì Mỹ có nhảy vào không? Điều này rất quan trọng.

Những báo cáo của Hai Trung cùng với nhiều nguồn khác đã góp phần giúp Trung ương hiểu rõ những diễn biến tình hình địch để có nhận định chính xác”. “Về việc Mỹ có nhảy vào không, ý kiến ông Hai Trung thế nào ?”. “Khả năng Mỹ đưa quân vô là không thể xảy ra”.

Ông Mười Nho kể về nhà tình báo huyền thoại của Liên Xô Richard Sorge. Richard Sorge sinh tại Baku (Nga, nay là Azerbaijan) năm 1895 trong một gia đình kỹ sư mỏ người Đức. Trong Thế chiến I, ông gia nhập quân đội Đức, chiến đấu ở mặt trận phía Tây và bị thương nặng. Sau hòa bình lập lại, ông trở thành phóng viên Báo Frankfurter Zeitung và bí mật gia nhập Đảng Cộng sản Đức (KPD).

Được cử sang thường trú tại Nhật Bản năm 1933, ông bắt đầu hoạt động tình báo cho Liên Xô. Lưới tình báo do Sorge tổ chức tập trung khai thác tin tức về chính sách đối ngoại của Nhật. Sorge cũng nhận làm việc cho bộ phận tình báo của Đại sứ quán Đức ở Tokyo, điều này cho phép ông lấy được cả thông tin về các ý đồ của Đức quốc xã đối với Liên Xô.

Sorge đã báo trước cho Stalin biết về nội dung Minh ước chống Quốc tế cộng sản (1936), Minh ước Nhật-Đức (1940) và việc Nhật Bản sẽ tấn công Trân Châu cảng. Thành tích lớn nhất của ông là đã báo trước cho Liên Xô về kế hoạch Đức tấn công Liên Xô ngay từ tháng 12.1940 (chiến dịch mang tên Barbarossa được Hitler quyết định mở màn vào tháng 6.1941).

Cuối tháng 8.1941, Sorge lại thông báo cho Stalin biết rằng Nhật sẽ không mở thêm mặt trận phía Đông chống Liên Xô, nhờ vậy Hồng quân có thể dồn lực lượng về phía Tây chống Đức. Hai tháng sau đó, Sorge bị bắt ở Tokyo và bị giam trong 3 năm, rồi bị treo cổ ngày 7.11.1944.

Nhân chuyện đó, ông Mười Nho nói: “Nhiều nhà tình báo nổi tiếng trên thế giới chỉ cần một hai cái báo cáo làm thay đổi cục diện chiến tranh, đã là vĩ đại. Đằng này Hai Trung có tới hàng mấy chục cái như vậy. Những tài liệu của Hai Trung gửi về đã đáp ứng được những nhu cầu rất quan trọng cho lãnh đạo, gần như suốt cả cuộc chiến tranh”.

Khoảng gần chục lần gặp ông Ẩn, nghe ông kể nhiều chuyện, nhưng khi viết về ông tôi vẫn thấy rất khó, một phần vì ông nhắc đi nhắc lại rằng tình báo ta giỏi chủ yếu là do cấp trên xử lý thông tin giỏi, nhận định giỏi, rằng chuyện của ông không có gì quan trọng và “không có gì hấp dẫn cả”, rằng những chuyện đó có nhiều người làm, một phần do tôi biết quá ít chuyện của những nhà tình báo để có thể so sánh. Đến khi nghe ông Mười Nho, tôi bỗng ngộ ra nhiều thứ, vì tôi biết ông Mười Nho là người khen chê rất có nguyên tắc.

Kỳ 18: Người 6 lần bị cưa chân để bảo vệ Phạm Xuân Ẩn

Đăng Bởi Một Thế Giới – 15:09 25-05-2015

Nhà tình báo chiến lực Phạm Xuân Ẩn

Để bảo toàn hồ sơ và bí mật Phạm Xuân Ẩn, trong một lần đưa tin, người giao liên Hai Thương bị bắt. Ông đã dũng cảm, giữ vững khí tiết cách mạng không khai báo. Tình báo Mỹ 6 lần dùng cưa máy cưa chân cụt 2 chân ông…

Có thể bạn quan tâm

>> Sát thủ 20 tuổi xả súng giết chết 13 người, bị thương 20 người khác tại Mỹ

>> Bài 2: Lừa dối khách hàng, TMV Kangnam liên kết với đối tác ảo ở Hàn Quốc

>> Ông Phó TGĐ “lĩnh lương gần 1 tỉ mỗi năm mà không kiếm được xu tài trợ nào” lên tiếng

Bảo đảm liên lạc hiệu quả và an toàn là yếu tố sống còn của hoạt động tình báo. Thông thường, các cơ quan tình báo trên thế giới đều “sử dụng các thiết bị, công nghệ hiện đại nhất để bảo đảm liên lạc. Song ở Việt Nam thì thiên biến vạn hóa, ta sử dụng tất cả những gì có thể, tùy tình hình cụ thể.

Ở nhiều lưới tình báo, ta có sử dụng vô tuyến điện và các phương tiện khác, nhưng với lưới của Phạm Xuân Ẩn thì liên lạc hoàn toàn theo phương thức cổ điển, tức chỉ bằng mạng lưới giao liên. Các chiến sĩ giao liên tình báo đã thực sự làm nên những kỳ tích trong suốt cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Rất nhiều người trong số họ đã làm được những việc còn phi phàm hơn cổ tích.

Một trong những người phi phàm như thế là ông Hai Thương. Trong cụm tình báo A36, chúng ta đã biết người giao liên trực tiếp với Phạm Xuân Ẩn trong nội thành Sài Gòn một phụ nữ anh hùng. Nhưng ra đến ngoại thành, tài liệu được chuyển giao cho đường dây giao liên vũ trang. Đến năm 1969, Hai Thương là một mũi trưởng của đường dây đó.

 

Ông Hai Thương – người ngồi trên xe lăng 

Khoảng cuối năm 1968 đầu 1969, sau một thời gian dài công tác lập được nhiều thành tích xuất sắc, ông Hai Thương nhận được lệnh bàn giao công việc để ra Hà Nội học.

Bàn giao xong, ông lên đến Phòng Tình báo miền để chuẩn bị ra Bắc thì cấp trên đề nghị quay trở lại để tổ chức tiếp nhận và chuyển giao một tài liệu mật hết sức quan trọng từ Sài Gòn chuyển ra. Như có linh tính, trước lúc lên đường ông đã kịp dặn đồng đội mình rằng nếu bị bắt trên đường đi thì ông sẽ cố giấu tài liệu theo quy ước để đồng đội đến tìm.

Ông Hai Thương kể lại, lúc đó khoảng 15 giờ ngày 10.2.1969, đến điểm hẹn nhận tài liệu xong, ông về cứ. Bất chợt một chiếc trực thăng HUIA xuất hiện hạ độ cao, chặn đường. Nghe tiếng trên máy bay, ông biết có tên “chiêu hồi” phát hiện ra ông. Khi máy bay chỉ cách ông hơn 10 mét, ông nổ mấy loạt súng bắn vào máy bay, chiếc máy bay trúng đạn loạng choạng bay về căn cứ.

Tranh thủ thời gian ít ỏi đó, ông đã kịp giấu tài liệu. Chỉ vài phút sau hàng chục máy bay lên thẳng đến vây và vãi đạn, ông bị thương vào đùi, nhào xuống một bờ mương. Lập tức chỉ trong 3 đợt, 72 máy bay lên thẳng từ căn cứ Lai Khê và từ Bình Dương đổ xuống hơn 1 tiểu đoàn quân Mỹ và một trung đoàn ngụy. Một mình ông với khẩu súng 21 viên đạn nhưng phải chọi đến cả ngàn quân. 21 viên đạn, hạ gục 21 tên giặc. Hết đạn, ông tranh thủ lấy súng AR15 của giặc bắn gục thêm mấy tên nữa. Cuối cùng, ông bị bắt.

 

Chân dung ông Phạm Xuân Ẩn ( hàng trên, bên phải) với các sinh viên đại học cộng đồng ở bang California lúc du học ở Mỹ

Không ai có thể tưởng tượng được hình phạt khốc liệt mà Hai Thương phải chịu. Đầu tiên, chúng đưa ông đến một biệt thự sang trọng có viên trung tá Mỹ chờ sẵn ở đó. Viên trung tá khoác tay chỉ bộ áo mũ gắn lon trung tá, một tấm séc 100 ngàn USD và chiếc xe hơi màu trắng…, nói : “Tất cả đều là của ông! Ông khỏi cần khai, chúng tôi biết ông là ai rồi. Bây giờ ông hãy nghỉ dưỡng sức cho lành lặn vết thương. Ông coi đây như nhà mình, khi vắng mặt tôi các người đẹp ở đây sẽ tiếp chuyện ông…”.

Ông Hai Thương còn nhớ trong những cô gái đó có cô tên Thùy Dương “đẹp lộng lẫy mà từ nhỏ cho tới khi bị bắt tôi chưa thấy ai đẹp như vậy, đẹp đến mức nếu không hiểu được âm mưu thâm độc của kẻ thù thì không thể nào nghĩ cô gái này là thiên nga, phượng hoàng lợi hại của địch”.

100 ngày trôi qua trong ngôi biệt thự, người Mỹ thấy không thể dùng giàu sang và mỹ nữ quyến rũ được Hai Thương, vở kịch hạ màn. Chúng đưa ông về căn cứ Long Bình. Việc trước hết là đánh dập hai bàn chân ông. Nghiến răng chịu đau, ông vẫn nói điều mà ông nói khi mới bị bắt: “Tôi Nguyễn Trường Hân, là thanh niên trốn lính, mù chữ, cha mẹ đã chết…, nhà ở An Điền, Bến Cát…”. Không khai thác được gì, chúng đưa ông lên bàn mổ. Một giáo sư Mỹ mang quân hàm đại tá cột chặt người ông vào giường, giọng rít qua kẽ răng: “Nếu mày không khai, tao sẽ cưa chân mày”. Chỉ tay qua số người Việt đứng xung quanh, viên đại tá nói: “Giới thiệu với ông Hân, đây là các sinh viên thực tập, họ sẽ cưa rời cơ thể ông ra”. Nói xong viên đại tá bước ra ngoài.

15 phút sau, y trở vào hỏi lại: “Bây giờ mày có nhận không ?”. “Tôi chỉ là thanh niên trốn lính…”. “Mày chỉ nhận mày là Nguyễn Văn Thương thì bàn chân mày còn, nó mới chỉ dập thôi, băng bó sẽ lành lại”. Ông vẫn dứt khoát không nhận. Lập tức viên đại tá hạ lệnh cưa chân ông mà không có một chút thuốc mê thuốc tê gì cả. Ông đau thấu xương và ngất đi, tỉnh lại thấy một bàn chân đã mất.

Và chúng đã cưa sống chân ông một cách dã man đến 6 lần như vậy, mỗi lần một khúc, khi vết cắt trước lên da non là chúng lại cắt lên trên, hết chân phải rồi chuyển sang chân trái. Chúng cắt hai chân ông đến tận háng nhưng vẫn không khuất phục được ông. Rốt cục, chúng phải hoàn tất hồ sơ và đưa ông đi hết trại giam này đến trại giam khác. Ngày 14.2.1973, từ đảo Phú Quốc, ông được trao trả về cho cách mạng, hồ sơ của địch về ông cũng chỉ vẻn vẹn: “Nguyễn Trường Hân, thanh niên trốn línhmù chữ, cha mẹ đã chết… nhà ở An Điền, Bến Cát…”.
Ông Hai Thương, nay là thiếu tá, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, tên thật là Nguyễn Văn Thương.

“Tài liệu bí mật hết sức quan trọng” mà ông Hai Thương đem sinh mạng của mình ra để bảo vệ chính là tài liệu của nhà tình báo chiến lược Phạm Xuân Ẩn gửi về cho cấp trên. Đến khi trao trả, ông Hai Thương mới biết ngay trong đêm mình bị bắt, đồng đội đã tìm được và đem về căn cứ một cách an toàn.

Kỳ 19: Phạm Xuân Ẩn và cuộc hội ngộ với cụm trưởng Tư Cang giữa Sài Gòn

Đăng Bởi Một Thế Giới – 16:01 26-05-2015

“Mà giả cố dẫn theo chó, chó giả ngon lắm, biết nghe tiếng Tây, thiên hạ ai cũng ớn”.

“Các cháu viết Hai Trung tầm cỡ quốc tế là đúng rồi. Chuyện chú không biết mở cửa taxi hồi vô thành 1968 cũng là sự thật. Trước chú học tình báo biết lái nhiều loại xe lắm, cả xe Liên Xô, xe Mỹ, nhưng trên rừng mới xuống thành phố không phải loại taxi nào cũng biết mở cửa, nên mới phải hỏi giả (tiếng Nam Bộ: ông ấy). Hai Trung hay cà rỡn lắm…”,. ông Tư Cang cười khà khà tiếp chúng tôi tại nhà riêng.

Có thể bạn quan tâm

>> Sát thủ 20 tuổi xả súng giết chết 13 người, bị thương 20 người khác tại Mỹ

>> Bài 2: Lừa dối khách hàng, TMV Kangnam liên kết với đối tác ảo ở Hàn Quốc

>> Ông Phó TGĐ “lĩnh lương gần 1 tỉ mỗi năm mà không kiếm được xu tài trợ nào” lên tiếng

Nhìn một tập Báo Thanh Niên trên bàn, tôi hỏi: “Chú có đọc bài về ông Hai Trung à?”. “Viết về ông bạn thân của chú làm sao chú không đọc được” ông Tư Cang là Cụm trưởng trực tiếp của Phạm Xuân Ẩn cho đến khi ra Bắc học Học viện Chính trị năm 1973 (trước đó có thời gian làm Phó Chính ủy Phòng Tình báo miền). Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ông làm Chính ủy Lữ đoàn đặc công biệt động 316 tham gia giải phóng Sài Gòn. Sau giải phóng, ông tiếp tục ở quân đội tham gia chỉ huy chiến đấu và bị thương trong chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam.

Ông nghỉ hưu năm 1982 với quân hàm đại tá. Ông được thưởng Huân chương quân công hạng 2, Huân chương độc lập hạng 2 và được đề nghị phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Ông Tư Cang là nhà tình báo chuyên nghiệp nhiều tài năng và rất vui tính. Ông không những có tài bắn súng ngắn “bách phát bách trúng” bằng cả hai tay, mà tôi thật bất ngờ khi nghe ông vui vẻ giới thiệu: “Hồi nhỏ cha mẹ đặt tên Nguyễn Văn Tàu, đến kháng chiến chống Pháp làm quân báo ở Bà Rịa lấy tên Trần Văn Quang, tập kết về năm 1961 lấy tên Tư Cang để chống Mỹ. Về hưu viết mấy cuốn sách, mấy anh Hội Nhà văn thành phố nói viết văn được, cho vô Hội Nhà văn thành phố, gọi nhà văn Nguyễn Văn Tào”. Quả thật, ông đưa tôi 4 cuốn sách do Nhà xuất bản Văn Nghệ TP Hồ Chí Minh ấn hành, trong đó 3 cuốn được tái bản. Ông Ẩn bảo ông Tư Cang bây giờ “vẫn còn đi được xe gắn máy”, nhưng ông Tư Cang cải chính: “Tôi vẫn lái ô tô về quê, mỗi lần đi về trăm cây”.

 Đại tá, Anh hùng Tình báo Tư Cang

Kể về Hai Trung, ông Tư Cang cực kỳ phấn chấn: “Tôi với giả từ 1962 đến bấy giờ chỉ liên lạc qua thư từ, chỉ đạo bằng giấy tờ không hà. Năm 1966 tôi vào thành gặp giả. Giả dòm tôi, giả nói: Cha này  trong rừng mà tướng ngon vậy. Dòm xuống chân tôi giả nói tiếp: Nhưng dép cha đi như dép tụi móc túi đi, không được. Tôi phải dẫn ông lại tiệm giày làm đôi giày mới. Mà quần áo ông mặc mới quá cũng không được, để tôi kiếm cho mấy bộ cũ cũ nhưng còn ngon cho ông. Tôi hồi đó là thiếu tá, mới 39, 40 tuổi, vào thành cũng ngon lắm; tiếng Pháp tiếng Anh lại rành rẽ nữa, nên đi với giả như bạn trong thành với nhau. Đó là cuộc gặp đầu tiên giữa tôi và Hai Trung. Tôi với giả thường sinh hoạt Đảng và bàn công tác trong các nhà hàng sang trọng, ở đó mỗi bàn cách nhau xa nên nói không ai nghe. Mà giả cố dẫn theo chó, chó giả ngon lắm, biết nghe tiếng Tây, thiên hạ ai cũng ớn”.

Về chuyện cùng Hai Trung đi tham gia chuẩn bị cho tổng tấn công Tết Mậu Thân, ông Tư Cang kể rất sinh động.

“Sau tổng tấn công đợt 1, tôi từ nội thành có gửi báo cáo về trên nói tình hình bi quan lắm, nhưng khi Hai Trung đưa đi một lượt, chẳng hạn giả dẫn tôi gặp một tay đại tá Bộ Tổng Tham mưu ngụy, hắn nói Việt cộng đánh vô kiểu này làm quân ngụy thấm đòn. Rồi gặp mấy cố vấn Mỹ, tụi nó nói nhân sự kiện này phong trào phản chiến bên Mỹ diễn ra ghê lắm, trận đó hạ uy tín nước Mỹ. Nghe vậy tôi phải làm báo cáo ngược lại, rằng chúng ta đánh trận này tuy về quân sự không đạt được kết quả như ý muốn nhưng đạt hiệu quả chính trị và tâm lý hết sức lớn.

Báo cáo đó được mấy ổng khen là nhận định đúng, chứ báo cáo trước tôi bị phê bình”, ông Tư Cang nhớ lại.

 Ông Tư Cang (hàng trên, thứ 2 từ phải qua) trong buổi mít-tinh mừng ngày toàn thắng 30-4-1975 trước dinh Thống Nhất (ảnh do nhân vật cung cấp)

Cũng xung quanh sự kiện Mậu Thân, ông Tư Cang kể tiếp: “Ngày 21.4.1968, tôi được lệnh hỏa tốc của Phòng Tình báo miền: Một cán bộ cao cấp của ta mới ra hàng giặc, phải xuống ngay Sài Gòn điều tra xem hắn đã khai những gì.”

Tôi tức tốc đi, xuống đến Bình Triệu mua ngay một tờ báo, thấy trên trang nhất chạy một hàng tít hớn: Thượng tá Tám Hà đã về với chánh nghĩa quốc gia. Kèm theo đó là tấm ảnh chụp Tám Hà đứng giữa, một bên là tướng Phạm Quốc Thuần, Sư trưởng Sư đoàn 5 ngụy, một bên là tướng Westmorland.

Tổng chỉ huy quân đội Mỹ tại Việt Nam. Tôi biết ngay Tám Hà, tức Trần Văn Đắc, trung tá (đầu hàng địch khai thượng tá), Phó Chánh ủy cánh quân phía bắc trong chuẩn bị tấn công Mậu Thân đợt 2, hắn nắm được toàn bộ kế hoạch tác chiến lần này. Tôi đến gặp Hai Trung, nói cho giả nghe chỉ thị của trên. Nghe xong, giả lái chiếc Renault đưa tôi đến tiểu khu Gia Định. Chừng 15 phút sau, giả mượn được toàn bộ tài liệu về lời khai của Tám Hà, đem chụp và trả lại đúng hẹn. Người giữ tài liệu không phải là cơ sở cách mạng mà là một người kính trọng Hai Trung. Đọc lời khai của tên phản bội tới đâu, tôi căm giận tới đó. Hắn khai tất cả, từ kế hoạch tác chiến, quân số, vũ khí, nơi ém quân, nơi cất giấu đạn pháo và quyết tâm của Bộ Tư lệnh miền. Biết được tình hình đó, ta thay đổi toàn bộ kế hoạch tác chiến, tránh được nhiều tổn thất, nhưng vẫn thực hiện tấn công đợt 2. Kết quả của hai đợt tấn công đó đã buộc đối phương xuống thang, ngồi vào bàn đàm phán”.

Kỳ 20: “Lên tới đại tá là phải làm quen với Phạm Xuân Ẩn rồi“

Đăng Bởi Một Thế Giới – 10:34 27-05-2015

Cố thiếu tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn – Ảnh Tư liệu

Ông Mười Nho nói: “Hai Trung (Phạm Xuân Ẩn) là đồng chí hết sức trung thành. Có những việc sau này mới thấy rất nguy hiểm đến tính mạng, nhưng Hai Trung vẫn chấp hành và làm hết sức mình để hoàn thành nhiệm vụ”…

Có thể bạn quan tâm

>> Sát thủ 20 tuổi xả súng giết chết 13 người, bị thương 20 người khác tại Mỹ

>> Bài 2: Lừa dối khách hàng, TMV Kangnam liên kết với đối tác ảo ở Hàn Quốc

>> Ông Phó TGĐ “lĩnh lương gần 1 tỉ mỗi năm mà không kiếm được xu tài trợ nào” lên tiếng

Tôi tò mò hỏi đó là những việc gì nhưng ông Mười Nho không cho biết cụ thể, ông chỉ khái quát: “Trên đánh giá rất cao Hai Trung, không để giả làm những việc nhỏ nhoi lặt vặt mà tập trung vào những vấn đề chiến lược. Mỹ chuyển hướng chiến lược như thế nào, mở các chiến dịch như thế nào, rồi các kế hoạch đánh phá miền Bắc, đánh qua Campuchia, bao giờ chúng mở trận càn này trận càn nọ…, tất cả đều được Hai Trung báo về trên ít nhất trước 3 tháng. Mỹ bây giờ nghe chuyện này ức lắm vì tất cả các kế hoạch động binh của họ đều được Hai Trung báo cho cơ quan đầu não của cách mạng biết trước…”.

“…Trong công tác tình báo, Hai Trung làm việc sáng tạo, thông minh và rất quyết tâm, luôn chủ động có những kế hoạch định trước. Cho đến bây giờ không ai có thể chê Hai Trung được điều gì. Mà trong phẩm chất tốt đẹp của Hai Trung hồi ấy, địch cũng không thể tìm được dấu hiệu gì là của anh cộng sản. Do đó lưới của Hai Trung được bảo đảm an toàn tuyệt đối; suốt cuộc chiến tranh, Hai Trung không bao giờ bị địch nghi ngờ”.

Còn ông Tư Cang thì kể lại: “Có những công tác vạn lần khó khăn nguy hiểm nhưng Hai Trung vẫn chấp nhận và làm cho bằng được. Có lần khi hoàn thành nhiệm vụ xong, giả nói bữa đó tự nhiên cái đầu gối trái của giả run lên bần bật, chết như chơi! Mà trước khi làm việc đó, giả phải thu xếp trước chuyện nhà cửa vợ con, giả dặn dò vợ giả nếu giả bị bắt thì phải làm gì, đi đâu”.

Tôi hỏi chuyện gì mà ghê gớm vậy, ông Tư Cang trả lời: “Đó là những chuyện thuộc loại sống để bụng chết mang theo, chỉ có chúng tôi và cấp trên biết, không thể nói tuột móng heo ra được”.

 

 Đại tá – Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang).

Đã hơn 27 năm sau chiến tranh nhưng hai người chỉ huy trực tiếp của nhà tình báo chiến lược vào hai giai đoạn của cuộc kháng chiến chống Mỹ vẫn có cái nhìn nhất quán về ông Ẩn và vẫn giữ những ấn tượng không phai mờ về ông. Tình đồng chí giữa họ thật trong sáng và cảm động.

Ông Mười Nho nói tiếp: “Hồi đó không có tướng ngụy nào mà không biết Phạm Xuân Ẩn, hễ sĩ quan mà lên tới đại tá là đến làm quen với giả rồi. Quan trọng lắm! Giả được Mỹ đào tạo, từng làm ở cơ quan Mật vụ Phủ Tổng thống, được Mỹ và chế độ Sài Gòn tin tưởng, giả lại là người của hãng Reuters, của báo TIME. Các tướng tá ngụy mà được giả lăng xê một câu là đời lên hương ngay. Cho nên bọn chúng bám Hai Trung dữ lắm. Nhưng Hai Trung rất thông minh, giả viết bài khôn khéo thông tin chính xác,nên rất có uy tín”.

Trở lại câu chuyện Phạm Xuân Ẩn “thuộc cỡ nào” trong ngành tình báo, ông Mười Nho thận trọng : ‘Tôi không biết có nên nói Hai Trung là nhà tình báo chiến lược số 1 hay không, trong tổng kết tôi cũng chưa dùng từ này. Tôi chỉ nói trong quá trình đánh Mỹ, Hai Trung hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hơn tất cả các lưới tình báo khác. Tôi đã nhận xét như vậy và được các đồng chí lãnh đạo ở trên rất đồng tình. Những lưới khác cũng rất giỏi, cũng rất nổi bật nhưng chỉ nổi bật được một số cái, còn Hai Trung thì rất nhiều, gần như suốt cả cuộc chiến tranh”.

Ông Tư Cang lại bình luận: “Lương giả hồi đó lớn lắm, lương của Reuters, rồi lương báo TIME trả rất cao. Giả còn được mời nói chuyện cho các cố vấn, chuyên gia Mỹ mới qua để chúng biết tình hình, mỗi giờ như thế chúng trả cho giả nhiều tiền lắm. Nhưng Hai Trung tính Đảng rất cao, rất dũng cảm, rất có ý thức tổ chức kỷ luật, cấp trên yêu cầu điều gì làm ngay điều ấy. Mà giả sống rất vui vẻ, hay đùa, hay cà rỡn để quên đi mọi nguy hiểm. Tôi với giả hợp nhau lắm”.

Kỳ 21: Một góc bí ẩn hay bốn chiến công của Phạm Xuân Ẩn

Đăng Bởi Một Thế Giới – 06:10 28-05-2015

Đại tá Trần Văn Hội (thứ ba từ phải sang) và các đồng đội cũ. (Người ngoài cùng bên phải là Thiếu tướng, Anh hùng LLVT nhân dân Phạm Xuân Ẩn). Ảnh do nhân vật cung cấp.

Tướng tình báo chiến lược Phạm Xuân Ẩn được phong Anh hùng ngay sau giải phóng và sau đó thăng quân hàm thiếu tướng. Ông còn được thưởng 4 Huân chương chiến công. Đó là thưởng cho những chiến công gì?

Có thể bạn quan tâm

>> Sát thủ 20 tuổi xả súng giết chết 13 người, bị thương 20 người khác tại Mỹ

>> Bài 2: Lừa dối khách hàng, TMV Kangnam liên kết với đối tác ảo ở Hàn Quốc

>> Ông Phó TGĐ “lĩnh lương gần 1 tỉ mỗi năm mà không kiếm được xu tài trợ nào” lên tiếng

1.Như đã nói, Phạm Xuân Ẩn được phong Anh hùng ngay sau giải phóng và sau đó được thăng quân hàm thiếu tướng. Đó là sự công nhận của Đảng và Nhà nước đối với toàn bộ những công lao, thành tích mà ông đã đóng góp cho sự nghiệp cách mạng, đồng thời là sự ghi nhận của cấp trên đối với tài năng của ông.

Nhưng tôi vẫn chưa biết ông Ẩn được thưởng 4 Huân chương chiến công là thưởng cho những chiến công gì?

Tôi đem thắc mắc này hỏi ông Tư Cang, ông Tư Cang nhớ lại: “Cho trận Ấp Bắc là một nè. Cái thứ hai là giả báo Mỹ sẽ đổ quân vào miền Nam. Giả báo việc đó năm 1964 thì tháng 3.1965 sư đoàn thủy quân lục chiến đầu tiên của Mỹ vào Đà Nẵng, tiếp theo là sư đoàn bộ binh số 1 – biệt danh là Anh Cả đỏ – đổ xuống Bến Cát, kế đó là sư đoàn bộ binh số 25 – biệt danh là Tia chớp nhiệt đới – đổ xuống Đồng Dù. Vừa đổ quân chúng vừa tuyên truyền dữ lắm, rằng Anh Cả đỏ là sư đoàn bách chiến bách thắng, có trước lịch sử nước Mỹ; rằng Tia chớp nhiệt đới là sư đoàn tinh nhuệ đi đến đâu dẹp yên du kích đến đó. Nhưng lúc chúng xuống Củ Chi bị du kích của ta đánh cho tơi tả, chúng cũng bị nhóm vũ trang trong Cụm tình báo của tôi đánh đầu tiên, giết nhiều tên dưới lòng địa đạo (1966).

Một cái Huân chương nữa thưởng cho giả là sau trận Mậu Thân. Như tôi đã nói, giả cùng tôi đi trinh sát nắm tình hình và gửi những báo cáo nhận định đúng đắn về trên, trận đó giả và tôi đều được thưởng Huân chương, mỗi người một cái.

Cái Huân chương thứ tư là sau trận Phước Long cuối năm 1974, cấp trên yêu cầu cho biết quân Mỹ có khả năng trở lại miền Nam không, Hai Trung nói dứt khoát là Mỹ không thể trở lại, nhận định đó của giả hoàn toàn chính xác. Trừ cái Huân chương thứ tư lúc đó tôi đã ra Bắc học, ông Ba Minh (đại tá Nguyễn Văn Minh) thay tôi làm Cụm trường, còn trước đó mỗi lần giả được thưởng Huân chương tôi đều báo miệng cho giả biết, chứ Huân chương thì phải để ở Phòng Tình báo miền.

Tôi nhớ năm 1968 đi với giả trên đường Lê Duẩn bây giờ, tôi thông báo: Ông kỳ này lại được thưởng Huân chương chiến công đó! Giả nói: “Mỗi lần được anh báo như vậy tôi nghe rất mừng, nhưng không biết mình có đeo nó được không, đời mình chưa chắc còn có dịp đeo được những Huân chương đó”. Giả là nhà tình báo chuyên nghiệp, được đào tạo và bố trí công tác một cách công phu như vậy, nhưng đời người tình báo nguy hiểm ngàn cân treo sợi tóc. Sau này tất cả huân chương thưởng cho giả được Tổng cục 2 tổ chức trao rất trân trọng”.

 

Từ trái sang: ông Phạm Xuân Ẩn, bà Nguyễn Thị Ba (thiếu tá, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, người giao liên nội thành cho ông Ẩn và cụm tình báo ), ông Tư Cang ( cụm trưởng của ông Ẩn từ năm 1962 đến năm 1973) và người ngoài cùng đại tá Nguyễn Văn Minh ( Ba Minh cụm trưởng của ông Ẩn từ năm 1973 đến sau giải phóng miền Nam) 
  1. Gia đình ông Hai Trung cũng là một bí ẩn. Ông không bao giờ kể về người thân của mình. Nhưng qua những câu chuyện của ông, thỉnh thoảng tôi cũng thấy bóng dáng mẹ ông, vợ ông và các con ông, đó là lúc họ có liên quan đến câu chuyện, chẳng hạn như chuyện ông đưa vợ con “di tản” sang Mỹ năm 1975, trong đó có nhắc đến việc mẹ ông bị ốm. Gia đình đối với ông dường như là nơi thiêng liêng và riêng tư đến mức không thể đem ra kể với người khác.

Có lẽ ông Tư Cang là người biết rõ gia đình ông bạn Hai Trung của mình. “Hồi đó (những năm 66, 67, 68), tôi hay đến nhà Hai Trung ở đường Ngô Tùng Châu cũ.

Nhà giả có mẹ, vợ và mấy đứa con. Mỗi lần tôi đến không khí thân mật lắm, như trong nhà với nhau. Giả cũng thường chở tôi và cả nhà đi đây đi đó đến những chỗ thân quen. Mẹ giả và vợ giả đều biết tôi và giả hoạt động cách mạng, nhưng họ tốt vô cùng. Họ rất ít nói, đặc biệt không bao giờ hỏi bất cứ chuyện gì về công việc của chúng tôi, chỉ lo cơm nước rất vui vẻ và chu đáo. Mỗi lần tôi đến, mẹ giả và vợ giả bao giờ cũng bắt ăn cơm cho bằng được mới cho đi. Nhưng tôi phải bảo vệ giả nên phải rất tránh, chỉ khi gặp những công việc găng lắm mới đến”, ông Tư Cang chỉ nói vậy. Trong giọng nói hồ hởi của ông, tôi biết ông vô cùng yêu quý gia đình Hai Trung, nhưng ông Tư Cang vẫn là người kín đáo, không nói gì cụ thể về họ.

Cũng liên quan đến chuyện gia đình Hai Trung, ông Tư Cang kể tiếp: “Năm 1975, lần đầu tiên sau giải phóng, Tổng cục 2 tổ chức gặp mặt lại anh chị em, bọn tôi mừng lắm. Bọn tôi ào tới ôm lấy nhau. Từ năm 1969 tới lúc đó mới gặp lại nhau chứ có ít đâu. Bây giờ mỗi lẫn gặp nhau cũng đều vui như vậy. Tôi còn nhớ sau giải phóng, có lần giả đạp chiếc xe đạp cà tàng từ nhà giả ở đâu đường Lý Chính Thắng ra nhà tôi ở Thanh Đa. Mừng quá tôi hỏi: “Đi đâu đó? Giả nói: Vợ đau ra anh kiếm mấy trái đu đủ non về trị bệnh bao tử cho bả”. Tôi nói: “Đu đủ đó, muốn bao nhiêu lấy bấy nhiêu”. Nói tới đó ông Tư Cang lại cười khà khà nhưng hai mắt đỏ hoe: “Hồi đó mời giải phóng còn khó khăn mà, ai cũng cực.

 Anh hùng Phạm Xuân Ẩn và bà Hoàng Thu Nhạn trong ngày cưới

Giả với tôi là bạn sanh tử, sống với nhau thiệt tình. Bọn tôi chẳng nghĩ ngợi gì về sự khó khăn. Anh em không tiếc xương máu để giành độc lập cho đất nước thì những khó khăn ban đầu đó có nhằm nhò gì. Biết bao liệt sĩ đã ngã xuống. Biết bao những thương binh cụt cả hai chân như Hai Thương… Mình như vậy là quả may mắn”.

Chúng tôi hiểu, để có cuộc sống thanh bình hôm nay, đã có 3 triệu người đã ngã xuống, 4 triệu người phải chịu mất một phần cơ thể của mình. Không phải chỉ thế hệ ông Tư Cang, thế hệ chúng tôi, mà mãi mãi sau này, ai sinh ra là người Việt Nam đều không được phép quên. Tôi lại nhớ lời ông Ẩn nói với chúng tôi: “Hãy viết chuyện của bao nhiêu người khác, chuyện của tôi không có gì đáng viết cả. Đừng tô vẽ chuyện của tôi, người ta sẽ nhàm chán”. (Còn tiếp )

“Bà già tôi mất ở chính ngôi nhà này, làm đám ma mà hàng phố trước cửa không ai hay. Lúc đưa ra cửa, hàng phố mới biết có người nói nhà ông Ẩn cách mạng, làm đám ma nhanh quá, như mấy ông cán bộ. Tôi bảo họ: “Không phải, cách mạng người ta đàng hoàng, đâu như tôi, ông nội”. Nói chuyện này ông Ẩn không nhìn ra xung quanh. Ông rót nước trà mời khách và cho biết ngôi nhà này sống đã bốn thế hệ, chết một còn ba..” (Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải, trích tác phẩm viết về cuộc đời Phạm Xuân Ẩn))

Kỳ 22: Nữ tình báo đặc biệt bên cạnh tướng Phạm Xuân Ẩn

Đăng Bởi Một Thế Giới – 07:19 30-05-2015

Tám Thảo tên thật là Mỹ Nhung – từng là tiểu thư sinh ra trong gia đình giàu có bán vải, tơ lụa ở Sài Gòn

Lúc Phạm Xuân Ẩn ở Mỹ về, liên lạc bị đứt do ông Mười Hương và các đồng chí phụ trách đã bị địch bắt. Đến cuối năm 1960, thông qua người của ông Mười Hương, ông Ẩn mới gặp được ông Cao Đăng Chiếm và chính thức nhận nhiệm vụ mới. “Người của ông Mười Hương” chính là bà Tám Thảo. Bà cũng là một nữ tình báo đặc biệt…

Có thể bạn quan tâm

>> Sát thủ 20 tuổi xả súng giết chết 13 người, bị thương 20 người khác tại Mỹ

>> Bài 2: Lừa dối khách hàng, TMV Kangnam liên kết với đối tác ảo ở Hàn Quốc

>> Ông Phó TGĐ “lĩnh lương gần 1 tỉ mỗi năm mà không kiếm được xu tài trợ nào” lên tiếng

Chúng tôi đã tìm gặp bà Tám Thảo ở nhà riêng của bà trên đường Nguyễn Trọng Tuyển, TP Hồ Chí Minh. Khi chúng tôi gặp bà khoảng 70 tuổi đã về hưu. Trước khi về hưu bà công tác ở Trung tâm Nghiên cứu dịch thuật TP Hồ Chí Minh. Trong kháng chiến chống Mỹ bà cũng ở trong Cụm tình báo do ông Tư Cang phụ trách. Cuộc đời hoạt động tình báo của người phụ nữ này cũng có rất nhiều chuyện thật ly kỳ.”

Bà Tám Thảo kể, sau Hiệp định Genève, ông Mười Hương bố trí ông Ẩn, bà và bà Phương Điền ở lại Sài Gòn “nằm mai phục”. Bà Tám Thảo không biết ông Ẩn làm nhiệm vụ gì nhưng ông Mười Hương dặn “tổ tam tam này dù xảy ra biến cố gì cũng phải giữ mối liên hệ với nhau“. Bà Tám Thảo nhớ lại: “Anh Mười Hương bảo tôi phải học cả tiếng Anh lẫn tiếng Pháp vì sau này cách mạng sẽ rất cần. Thế là anh Ẩn dạy khai tâm tiếng Anh cho tôi và cô em gái tôi. Tuy ảnh chỉ dạy tôi được mấy tháng, nhưng ảnh đánh giá cao khả năng của tôi, từ đó tôi tiếp tục học và giỏi ngoại ngữ”.

 Nữ tình báo Tám Thảo cùng người chỉ huy Tư Cang (thứ hai từ trái sang) và đồng đội

Gia đình tôi với gia đình anh Ẩn thân nhau lắm, ảnh đến nhà tôi chơi hoài à. Ngày anh Ẩn đi Mỹ học, tôi có đến chia tay tại nhà ảnh. Sau đó nhiều biến cố xảy ra, anh Mười Hương bị bắt, chị Phương Điền cũng bị bắt. Tôi và em tôi chạy xuống Rạch Giá lánh một thời gian. Sau đó tôi về Sài Gòn tìm cách nối lại liên lạc”.

Bà Tám Thảo kể tiếp: “Sau khi đi Mỹ về anh Ẩn đến nhà tôi chơi, thấy vẻ mặt ảnh buồn buồn, tôi hỏi: Anh có tính nối lại liên lạc không? Ảnh nói tưng tửng:  chứ. Tôi đã tìm cách liên lạc mấy lần nhưng không được. Tôi bảo ảnh: “Anh chuẩn bị đi, tôi sẽ tìm cách liên lạc”. Hồi đó nhân có chị Tám Thanh (sau này làm Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố) đến liên lạc với tôi và bảo tôi vào chiến khu dự lễ ra mắt Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Tôi vào chiến khu nói với chị Tám Thanh về chuyện anh Ẩn. Chị Tám Thanh bảo: “Được, để đó chị lo”. Lần sau vào tôi gặp anh Cao Đăng Chiếm. Anh Chiếm bảo: “Ẩn là bạn tôi. Chị tìm cách đưa Ẩn vào đây”. Sau đó tôi về đưa anh Ẩn vô, đi bằng taxi, ảnh có thẻ báo chí nên đi qua bót của địch không khó khăn gì. Vào Phú Hòa Đông, tôi về trước, còn anh Ẩn ở lại đó hai, ba ngày để nhận nhiệm vụ”.

“Rồi sau đó?”, tôi hỏi.

Tôi chỉ móc liên lạc cho ảnh, còn nhiệm vụ ảnh làm tôi không biết. Sau này chị Ba anh hùng làm giao liên cho ảnh, còn tôi không làm giao liên. Chỉ khi gặp những chuyện đột xuất khẩn cấp mà chưa đến ngày hẹn ảnh mới chạy đến chỗ tôi nhờ tôi liên lạc giúp”.

Bà Tám Thảo, cùng người em gái là Chín Chi đều là cán bộ trong Cụm tình báo do ông Tư Cang phụ trách đầu năm 1962. Năm 1964, bà Chín Chi đã thoát ly vào công tác hẳn trong khu giải phóng. Còn bà Tám Thảo lúc đó, theo lời kể của ông Tư Cang thì: “Thân hình thon thả, tầm thước, mặt tròn đầy đặn, giọng Nam có pha lẫn ít giọng Bắc càng tăng thêm sự duyên dáng. Cô là mẫu người đẹp của thành phố. Nhìn vóc dáng và bình phong gia đình của cô thì dù địch có tinh ranh đến mấy cũng khó nghĩ đó là một người cộng sản, một cán bộ Việt cộng”.

Bà vào làm phiên dịch cho một viên thiếu tá tình báo Hải quân Mỹ cố vấn cho tình báo Hải quân ngụy. Tại vị trí này, bà được viên thiếu tá tin cậy, nên đã “lấy được rất nhiều tài liệu tốt phục vụ cho cách mạng”, trận Mậu Thân bà cũng được thưởng Huân chương chiến công.

Tám Thảo bên bàn làm việc ngày 7/6/1966

Năm 1969, bà Tám Thảo vào hẳn chiến khu công tác. Tôi hỏi vì sao bà không hoạt động nội thành nữa, bà nói:

“Thứ nhất, tôi lúc đó đã lớn tuổi rồi, làm tình báo thì dứt khoát không được phép lấy chồng không cùng chí hướng, nhất là lấy sĩ quan công chức chế độ Sài Gòn, nên mấy ổng ở trên bảo để tôi ngoài ấy mãi thì làm sao lập gia đình được. Thứ hai, trong cụm tình báo của chúng tôi chỉ có anh Ẩn và tôi ở nội thành, hai người lại biết nhau, một người bị lộ thì sẽ ảnh hưởng đến người kia. Anh Ẩn đã có gia đình, tôi thì chưa, vả lại công tác của anh Ẩn quan trọng hơn tôi nhiều. Ra cứ mấy ổng giới thiệu cho tôi một người và tôi lấy chồng lúc 39 tuổi”.

Chồng bà Tám Thảo nay đã qua đời, trước khi về hưu ông là đại tá công tác ở Bộ Tư lệnh Quân khu 7

Kỳ 23: Tình báo “Việt cộng” kể chuyện tình báo Mỹ

Đăng Bởi Một Thế Giới – 07:00 31-05-2015

Phạm Xuân Ẩn (bên trái) ăn tối cùng bạn bè và đồng nghiệp. Hình ảnh đăng tải trong cuốn “X6 – Điệp viên hoàn hảo”

Không ai có thể xem thường tình báo Mỹ. Ông Phạm Xuân Ẩn – người đã “qua mặt” một cách ngoạn mục trình độ tinh xảo và kỹ thuật tối tân nhất của mạng lưới CIA dày đặc ở miền Nam suốt hơn 20 năm, nói: “Tình báo Mỹ mạnh lắm và rất nhiều kinh nghiệm”…

Có thể bạn quan tâm

>> Sát thủ 20 tuổi xả súng giết chết 13 người, bị thương 20 người khác tại Mỹ

>> Bài 2: Lừa dối khách hàng, TMV Kangnam liên kết với đối tác ảo ở Hàn Quốc

>> Ông Phó TGĐ “lĩnh lương gần 1 tỉ mỗi năm mà không kiếm được xu tài trợ nào” lên tiếng

“Mỹ là nước sinh sau đẻ muộn nên tất cả những gì là hay nhất của thế giới họ tiếp thu hết, ngành nào cũng vậy chứ không riêng gì tình báo, Người Mỹ hay ở chỗ đó. Khó đánh giá tình báo Mỹ lắm. Chính họ cũng không đánh giá nổi họ huống gì ta. Họ thường xuyên rút kinh nghiệm và cập nhật trình độ. Một sĩ quan tình báo từng đi làm việc ở đâu đó một thời gian, lại gọi về bắt học nghiệp vụ. Cho nên họ ứng phó rất nhanh với tình hình mới”.

Tôi hỏi: “Chúng ta thường nghe nói CIA cho người thâm nhập cách này cách khác vào hàng ngũ của ta nhưng chỉ ở cấp thấp và chỉ ở chỗ không quan trọng, ít nghe nói đến việc CIA thâm nhập sâu vào nội bộ của ta, đặc biệt là ở cấp cao. Tình báo Mỹ rất giỏi sao không làm được điều đó ?”.

Ông Ẩn: “Khó lắm. Muốn thâm nhập sâu thì trước hết phải vào được Đảng. Mà cài người vào Đảng của ta hồi đó đâu có dễ, do Đảng cực kỳ chặt chẽ và nghiêm cẩn về tổ chức”.

Nhưng theo ông Ẩn, mặc dù vậy tình báo Mỹ vẫn rất giỏi về nghiệp vụ. Ông không chỉ có kiến thức sâu rộng về tình báo của đối phương mà còn tích lũy rất nhiều thực tế sinh động, vừa với tư cách là nhà báo vừa với tư cách là nhà tình báo.

Sau đây là một trong, nhiều câu chuyện mà ông kể với chúng tôi.

Hồi kháng chiến chống Mỹ ở một tỉnh Nam Bộ có một cán bộ chức to lắm, ông ta bị đau gan, cấp trên đề nghị ra Bắc chữa trị nhưng ông ta không chịu, có lẽ do sợ đi chữa bệnh về người khác đã thay thế chức vụ. Nhưng trong rừng thì rất khó khăn, làm sao chữa được bệnh gan. Tình báo Mỹ có người bên trong nên biết chuyện. Thì ra “ông nội” này muốn chữa bệnh gan nhưng không có thầy thuốc. Chúng bèn đưa một nhóm bác sĩ, y tá rất giỏi về gan cùng đầy đủ thuốc men lên mở một trạm y tế chữa bệnh miễn phí cho đồng bào gần đó và loan tin rộng ra cho mọi người đều biết. Hồi đó người dân bị bệnh gan cũng rất nhiều. Tất nhiên “ông nội” của chúng ta muốn ra nhưng lại sợ.

Dự đoán ông là sẽ để dân ra chữa trước, sau đó thế nào đích thân ra chữa bệnh, nên chúng tả đặc điểm nhận dạng và dặn dò cách thức chữa bệnh cho viên bác sĩ và chờ đợi. Đúng như dự đoán, sau khi thấy dân đi chữa ai cũng khỏi bệnh, “ông nội” của chúng ta cải trang thành nông dân ra chữa bệnh thật. Sau khi dẫn một tên chiêu hồi ra nhận dạng, viên sĩ quan tình báo Mỹ dặn bác sĩ phải giữ ông ta lại chữa đúng 1 tháng (người nào đến cũng như vậy cả).

Được 15 ngày ông cán bộ sốt ruột xin về “lo việc đồng áng”. Viên bác sĩ yêu cầu ít nhất phải thêm 1 tuần nữa mới có thể khỏi bệnh. Nhưng chưa hết 1 tuần, bọn Mỹ đem xe jeep đến đưa ông ta đến một chỗ khác (có đem theo thuốc men điều trị cẩn thận).

Đến nơi, thông qua người phiên dịch, viên sĩ quan Mỹ nói: “Chào ông, tôi đã biết rõ họ tên, chức vụ của ông rồi. Xin ông thứ lỗi về cách mời đột ngột vô lễ này”.

Ông cán bộ hơi tái mặt: “Tôi rất bất ngờ về chuyện này”.

Viên sĩ quan Mỹ: “Ở đời có nhiều chuyện bất ngờ lắm. Chúng tôi không bắt ông mà mời ông đến để cùng bàn công việc. Cuộc chiến này kéo dài quá, cả hai bên đều đổ nhiều máu. Chúng ta đều muốn hòa bình, do đó phải hợp tác với nhau. Đàm phán là chuyện của cấp trên chúng ta ở Hội nghị Paris, còn chúng ta ngồi đây là hợp tác trong phạm vi trách nhiệm của mình”.

Ông cán hộ thẳng thừng: “Không, tôi không trao đổi hợp tác gì hết”.

“Tùy ông. Nhưng tôi hứa với ông rằng sau hai ngày làm việc ở đây tôi sẽ trả ông về đàng hoàng theo đúng thời gian mà bác sĩ yêu cầu, không gây khó khăn gì cho ông cả”.

Sau hai ngày, ông cán bộ vẫn dứt khoát không hợp tác, viên sĩ quan Mỹ nói: “Ông không hợp tác cũng được, chúng tôi không ép. Nhưng chúng tôi vẫn cho ông mấy địa chỉ, số điện thoại, mật hiệu, nếu thấy cần ông có thể liên lạc với chúng tôi vào bất cứ lúc nào. Còn nếu không muốn liên lạc thì cũng không sao”.

Chúng đưa ông ta trở lại trạm xá và cho ông trở về an toàn sau khi chăm sóc thuốc men đầy đủ. Nhìn cảnh đó, người phiên dịch nổi nóng với viên sĩ quan: “Trời ơi, một cán bộ quan trọng như vậy mà ông để thoát à ?”.

Viên sĩ quan: “Anh làm phiên dịch thì biết gì. Tôi hỏi anh: tại sao anh chống Cộng ?”.

Người phiên dịch: “Vì gia đình tôi là địa chủ, tôi thù cộng sản”.

Viên sĩ quan: “Nhưng tôi là tình báo. Mà tình báo là một nghề chuyên môn, giống như bác sĩ chữa bệnh, tôi coi anh ta là đối tượng của công việc, không coi là kẻ thù. Làm tình báo thì không đem tình cảm xúc động ra mà hành xử được”.

Viên sĩ quan Mỹ nói tiếp: “Tôi hỏi anh, nếu vợ anh ngoại tình, nó về có khai với anh không? Nhất định là không rồi, phải không ?”.

“Tất nhiên, nhưng thỉnh thoảng có đứa ăn năn hối lỗi cũng nói thật chứ”.

“Nó khai thật, anh có tha thứ cho nó không ?”.

“Tôi có thể tha thứ”.

“Anh tha thứ nhưng trong bụng anh thì sao ? Anh buồn phiền chứ gì ? Anh nghi ngờ chứ gì? Phải vậy không? Thì nhân vật của chúng ta đây cũng rơi vào trường hợp đó. Ông ta được cấp trên đưa đi chữa bệnh nhưng không đi mà lén ra đây chữa bệnh, lại gặp sĩ quan Mỹ, ông ta có dám khai với cấp trên không ? Chắc chắn là không. Vì nếu khai thì ông ta sẽ bị mất chức, hoặc chí ít cũng không được tin dùng. Còn nếu không khai thì anh biết chúng ta có lợi gì không ? Cái lợi thứ nhất là ông ta sẽ nghi ngờ tất cả những người dưới quyền ông ta hoạt động trong vùng chúng ta kiểm soát, vì bản thân ông ta làm đến cỡ đó còn bị CIA mua chuộc, huống hồ là những người khác, chúng có làm việc cho CIA hay không thì ai mà biết được. Cái lợi thứ hai là ông ta nghi ngờ nhưng ông ta không thể báo với cấp trên về sự nghi ngờ của mình, cho nên toàn bộ đám này sẽ bị vô hiệu hóa. Tóm lại, ông ta khai thì ông ta chết, còn ông ta không khai thì đám Việt cộng ngoài này chết. Anh thấy những cái lợi đó so với cái lợi bắt ông ta, cái lợi nào lớn hơn ?”.

Câu chuyện trên do chính người phiên dịch kể lại với ông Ẩn.

Kỳ 24: Chiêu trò lợi hại của tình báo Mỹ và mỹ nhân kế

Đăng Bởi Một Thế Giới – 08:30 01-06-2015

Phạm Xuân Ẩn (bên trái) ăn tối cùng bạn bè và đồng nghiệp. Hình ảnh đăng tải trong cuốn “X6 – Điệp viên hoàn hảo”

Phạm Xuân Ẩn bảo chuyện thân bại danh liệt vì phụ nữ, anh hùng cổ kim đông tây đều biết, nhưng cũng có lắm người tự nguyện “đưa cổ vào tròng”. Và tình báo Mỹ cũng không bao giờ bỏ qua kiểu “mỹ nhân kế” đắc dụng đó…

 

Ông Ẩn kể về một người có tên là Nguyễn Xuân Chuyên. Hồi đầu chống Mỹ, ông ta là cán bộ quân sự rất giỏi của ta, từng được đào tạo ở Trung Quốc. Ông ta là người huấn luyện cho bộ đội đặc công.

Khi ta thành lập Sư đoàn 9 – một trong những sư đoàn đầu tiên của quân giải phóng – chỉ với hai trung đoàn, Sư đoàn này đã đánh trận Bình Giã chiến thắng vang dội. Nguyễn Xuân Chuyên có tham vọng được bổ nhiệm làm sư đoàn trưởng, nhưng cấp trên đã bổ nhiệm một người khác, ông ta đâm ra bất mãn, khai bệnh nọ bệnh kia, rồi xin về an dưỡng ở một nơi vừa giải phóng.

Tại đây có một khu phố, dân buôn bán nhiều người bỏ đi, có một quán cà phê ông chủ cũng bỏ đi nhưng để cô con gái ở lại bán hàng để giữ tiệm. Nguyễn Xuân Chuyên thường lui tới quán cà phê, thấy cô này xinh đẹp, một hồi đâm ra mê. Cô gái thấy vậy báo với người anh: “Có ông cán bộ Việt cộng chức to lắm, thường đến uống cà phê tán tỉnh em hoài…”.

Người anh cô ta làm cho tình báo Mỹ nên thuật lại chuyện này với một viên sĩ quan. Viên sĩ quan Mỹ bảo: “Bằng mọi giá anh khuyên cô em phải lấy cho được ông cán bộ đó, rồi tìm cách rủ ông ta về Sài Gòn. Tất cả tài sản của gia đình để lại đó, chúng tôi bồi thường đầy đủ”.

Cô gái nghe lời anh, nói với ông Chuyên: “Anh là cán bộ lớn, thì em phải theo anh ở lại trong này, nhưng em không thể ở được. Nếu anh đồng ý về Sài Gòn với em thì em mới lấy”. “Ông nội” này nghe nói chịu liền, lấy cô gái, bỏ cách mạng theo địch, được bố trí làm ở Bộ Thông tin chiêu hồi ngụy.

Nghe nói sau giải phóng ông ta bị kẹt lại, được đưa đi học tập cải tạo. Nhân chuyện này, ông Ẩn bảo chuyện thân bại danh liệt vì phụ nữ, anh hùng cổ kim đông tây đều biết, nhưng cũng có lắm người tự nguyện “đưa cổ vào tròng”. Và tình báo Mỹ cũng không bỏ qua kiểu “mỹ nhân kế” cổ điển đó.

Cũng thời chống Mỹ, ở Quảng Ngãi có một chuyện. Sáng nào cũng có hai lính Mỹ, một da nâu, một da đen đi chợ mua đồ ăn, mà mua toàn mắm ruốc với tóp mỡ. Hai người này nói tiếng Việt rất rành. Mấy bà bán hàng thấy lạ, hỏi: “Hai ông là người Mỹ sao lại ăn những thứ này ?”. Chúng nói: “Tụi da trắng mới ăn các thứ đồ hộp, bơ sữa, còn da nâu da đen tụi tui ở bên đó cũng ăn toàn thứ này”. Chúng thường mua thật nhiều và về đổ đi. Chuyện này do một người làm tình báo cho Mỹ quen với ông Ẩn kể lại.

Người này thắc mắc với chúng: “Sao mua những thứ này, lại đem đổ đi ?”. Người lính Mỹ bảo: “Mắm ruốc mà kho với tóp mỡ thì ngon, bổ dưỡng, lại rất rẻ. Việt cộng trong rừng thường mua nhũng thứ này cho quân của chúng ăn. Ngày nào bọn tôi ra chợ mà thấy những thứ đó bán hết sớm thì biết chúng mua nhiều, tức là chúng tăng quân. Hai ba ngày liên tiếp mà mắm ruốc, tóp mỡ bị mua gom hết, tức là chúng sắp mở chiến dịch”. Cách thám thính tin tức theo kiểu cổ xưa đại khái như việc “đếm bếp” trong binh pháp Tôn Tử như vậy cũng được tình báo Mỹ sử dụng thành thạo, thật không ngờ.

Ông Ẩn kể tiếp một chuyện khác. Trong một trận đánh ở Long Thành (thuộc Bà Rịa-Vũng Tàu bây giờ), một trung đội Mỹ bị quân ta tiêu diệt. Chúng đưa máy bay đến cứu, nhưng quân ta đã rút. Trực thăng chúng quần thấp nhưng không hạ xuống lấy xác lính Mỹ mà thả thêm xuống mấy khẩu tiểu liên M16, không phải súng mới mà là súng đang dùng. Ban đêm quân ta ra thu chiến lợi phẩm, tất nhiên coi tất cả là súng của những tên đã chết. Không ai có thể ngờ được trong báng súng của những khẩu M16 đó có gắn thiết bị phát tín hiệu. Quân ta tập trung vũ khí đưa vào kho. Tình báo Mỹ đã tính toán kỹ, kho vũ khí tất nhiên nằm ở chỗ quân ta trú quân. Những tín hiệu phát lên không trung, từ tín hiệu đó cơ quan chỉ huy quân đội Mỹ định vị được nơi quân ta đóng. Và chúng đem bom B52 dội ngay vào chỗ đó.

Ông Ẩn bảo tình báo Mỹ làm rất nhiều trò, dùng rất nhiều thủ thuật, sử dụng mọi phương pháp từ tân tiến đến cổ điển, từ hiện đại đến thô sơ, việc nào cũng thể hiện một trình độ chuyên nghiệp rất cao.

Kỳ 25: “Mỹ có chiến lược quan trọng gì, Hai Trung lấy tuốt luốt hết ráo…’

Đăng Bởi Một Thế Giới – 05:00 02-06-2015

“Khi tiếp xúc Phạm Xuân Ẩn, không thấy ông có vẻ gì của nhà tình báo hay nhà báo bậc thầy hiểu biết. Mà giản dị, đôn hậu như một người anh, một người bạn”.

Những người làm tình báo tất nhiên là khôn ngoan, mưu trí, nhưng hình như tất cả những người làm tình báo cách mạng đều thiệt thà. Và điều này mới thật lạ lùng.

 

Là trong đường dây của Phạm Xuân Ẩn, không chỉ có ông Ẩn là người hay cà rỡn mà ông Mười Nho, ông Tư Cang đều là những người hài hước. Tính hài hước của ba bậc cao thủ này làm tôi vô cùng thú vị, do đó trước khi gặp ông Ba Minh, người Cụm trưởng cuối cùng của đường dây ông Ẩn, tôi rất hồi hộp, có lẽ do tâm lý “ăn quen” …

Ông Ba Minh mở đầu câu chuyện: “Tôi vốn là cán bộ quân sự, trước ở Sư đoàn 338, tình báo thì chưa được huấn luyện gì nhiều. Có lẽ trên thấy lý lịch của tôi hồi chống Pháp có thời gian làm quân báo, nên bảo tôi qua bên tình báo chiến lược. Mới nghe tôi đã nhảy nhổm lên rồi. Tôi muốn xin về Sư đoàn 9 để chiến đấu chứ có biết gì về tình báo mà làm. Thuyết phục mãi tôi không chịu, anh Sáu Trí (thiếu tướng Nguyễn Đức Trí) thủ trưởng Phòng Tình báo miền nói: Đồng chí là đảng viên, Đảng cần đồng chí làmviệc này đồng chí có chấp hành không ? Nói thế thì tôi chịu. Tôi vào ngành tình báo là như vậy, sau đó mới được Phòng Tình báo huấn luyện tại chỗ về nghiệp vụ.

” Năm nào cũng vậy, Mỹ có tài liệu chiến lược gì quan trọng, đều bị Hai Trung lấy tuốt luốt hết ráo…”.

Ông Ba Minh

Lúc bấy giờ là năm 1968. Nhiệm vụ mới của ông Ba Minh có liên quan ngay đến Phạm Xuân Ẩn. Ông Ba Minh kể tiếp: “Hồi đó anh Tư Cang, Phó Chính ủy Phòng Tình báo miền trực tiếp làm Cụm trưởng, tôi làm chính trị viên. Theo nguyên tắc, chỉ có Cụm trưởng mới liên lạc trực tiếp với Hai Trung chứ tôi chính trị viên thì không được rớ vô. Từ sau 1970 Mỹ mở rộng chiến tranh ở Đông Dương, đánh sang Campuchia, tình hình liên lạc với các tổ chức tình báo của mình ở Sài Gòn ngày càng trở nên rất khó khăn. Tôi nhận dẫn gần 20 đồng chí đi tìm một chỗ khả dĩ có vị trí thuận lợi để liên lạc với Hai Trung, nhưng cũng rất gian nan, chỉ trong vòng 6 tháng, tổ công tác đã có 5 đồng chí hy sinh, 6 đồng chí bị thương, trong đó có tôi.

 Ông Ba Minh đang tiếp xúc, trò chuyện với các Nhà báo

Nói vậy để thấy phía sau một người hoạt động nội thành là cả môt tập thể rất lớn sẵn sàng chấp nhận mọi hi sinh. Cuối năm 1972, anh Tư Cang ra Bắc học, tôi thay ảnh làm cụm trưởng. Nhưng tuy làm cụm trưởng tôi vẫn không được gặp Hai Trung, vì sau Mậu Thân trên có lệnh cấm cán bộ Cụm vào thành để khỏi ảnh huởng đến sự an toàn của lưới tình báo. Vì vậy tôi, với Hai Trung chỉ liên hệ với nhau qua thư từ công tác chứ không biết mặt nhau, mãi đến sau giải phóng mới gặp”.

Chúng tôi phát hiện ra một điều đặc biệt. Vợ ông Ba Minh – bà Hà Thị Kiên, tức Tám Hà, mang bí danh Z28 – cũng là một đồng chí liên lạc giữa Cụm với ông Ẩn.

Như đã nói, bà Ba anh hùng chỉ làm giao liên cho ông Ẩn trong phạm vi nội thành, ra đến ngoại thành tài liệu được chuyển cho người khác. Ông Ba Minh nói: “Bà vợ tôi chịu trách nhiệm chuyển tài liệu từ chị Ba ra chiến khu. Đến lúc gần giải phóng, theo yêu cầu đặc biệt phải liên lạc nhanh, vợ tôi được phép liên lạc trực tiếp với Hai Trung tại trung tâm Sài Gòn, song song với chị Ba. Và chính vợ tôi đã dẫn tôi gặp Hai Trung lần đầu tiên. Cũng theo nguyên tắc bí mật y như hồi chiến tranh, mặc dù Sài Gòn đã giải phóng.

Tôi cũng mặc thường phục giả làm người đi chơi, rồi ảnh cũng đến đúng giờ hẹn, vợ tôi cũng đi trước ra dấu hiệu, rồi chúng tôi nhận ra nhau, kéo vào quán cà phê ngồi nói chuyện. Lúc đó tôi mới biết. “Chà ! Hai Trung chính là thằng cha này đây !” Phải giữ bí mật vì việc của ảnh chưa công khai, vả lại còn phải đảm bảo an toàn cho vợ còn ảnh bên Mỹ. Hồi đó anh Tư Văn, Cục phó Cục 2 (trung tướng Nguyễn Như Văn) ngoài Bắc vào đến chỗ Hai Trung cũng giữ bí mật, tôi phải đưa đi vòng vòng một hồi coi không ai theo dõi rồi mới vào nhà đóng kín cửa lại, lúc ấy nhà ảnh còn ở đường Ngô Tùng Châu. Đến khi vợ con Hai Trung về nước năm 1976 chúng tôi mới có dịp thong thả hàn huyên tâm sự”.

Đại tá Nguyễn Văn Minh, tức ông Ba Minh, sau giải phóng trở lại đơn vị chiến đấu, tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, làm Phó Tư lệnh Mặt trận 779 trong những năm 1987- 1989, sau đó còn biệt phái làm Tổng lãnh sự Việt Nam tại Campuchia. Ông sinh năm 1930, về hưu năm 1997.

Ông Ba Minh nói: “Chuyện hồi trước thì tôi không được biết, chứ trong thời gian tôi làm Cụm trưởng, những năm 72, 73,74, mỗi năm Mỹ có tài liệu chiến lược gì quan trọng, đều bị Hai Trung lấy tuốt luốt hết ráo”. Tuy làm Cụm trưởng trong một thời gian ngắn, lại không biết mặt ông Ẩn, nhưng ông Ba Minh có những kỷ niệm rất sâu sắc về Hai Trung.

Kỳ 26: Phán đoán quan trọng cuối cùng của tướng Ẩn

Đăng Bởi Một Thế Giới – 05:57 03-06-2015

Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam VN, ký Hiệp định Paris – Ảnh tư liệu

“Mỹ dứt khoát không đưa quân trở lại miền Nam” – sau giải phóng, Hai Trung Phạm Xuân Ẩn được thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất vì câu trả lời đó…

 

Ông Ba Minh không chỉ là người chứng kiến trực tiếp mà còn trực tiếp truyền đạt những yêu cầu của cấp trên cho ông Ẩn trong những năm cuối cùng của cuộc chiến tranh.

Còn nhớ, cuối năm 1974, ta mở đợt hoạt động quân sự Đông Xuân vào hướng Nam Bộ, trọng tâm là đồng bằng sông Cửu Long. Quân ta giành thắng lợi vang dội trong chiến dịch đánh đường 14 – Phước Long. Trong chiến dịch này (từ 12.12.1974 đến 6.1.1975), ta giải phóng toàn tỉnh Phước Long. Quân ngụy phản ứng mạnh, đưa quân về chiếm lại vùng giải phóng nhưng thất bại. Phía Mỹ chỉ phản ứng yếu ớt, chủ yếu dùng áp lực đe dọa từ xa.

Ông Ba Minh kể lại sự kiện mà ông cho là quan trọng nhất, có ấn tượng nhất liên quan đến Phạm Xuân Ẩn: “Trận Phước Long năm 1974 coi như ta nhắp thử một cái để coi thái độ của Mỹ. Sau chiến dịch này cấp trên điện cho tôi truyền đạt nhiệm vụ cho Hai Trung. Cấp trên yêu cầu trả lời câu hỏi sau: Nếu quân ngụy đứng trước nguy cơ sụp đổ hoàn toàn thì Mỹ có can thiệp quân sự, có đưa quân vào không, nếu can thiệp thì can thiệp đến mức độ nào ? Lúc đó tôi nghĩ: Cha! Câu hỏi này khó dữ đây! Vì biết Mỹ can thiệp ta sẽ đánh theo một cách, còn biết Mỹ không can thiệp ta sẽ đánh theo một cách hoàn toàn khác.

” Mỹ dứt khoát không đưa quân trở lại miền Nam” – sau giải phóng anh Hai Trung được thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất vì câu trả lời đó.

Ông Ba Minh

Nếu không biết chắc chắn thì khó mà giành được thắng lợi. Tôi viết thư ra cho Hai Trung truyền đạt yêu cầu của cấp trên. Tôi lưu ý thêm với ảnh rằng đây là vấn đề cực kỳ quan trọng liên quan đến kết quả của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của chúng ta, cho nên phải tìm hiểu thật kỹ, nếu biết chắc chắn thì trả lời, còn nếu chưa đủ cơ sở để xác định được thì cứ báo cáo là chưa đủ cơ sở để xác định. Tôi nghĩ đây là vấn đề quá lớn, không thể bắt buộc người tình báo phải trả lời dứt khoát được. Chỉ trong một thời gian ngắn, Hai Trung gửi tài liệu vô, kèm theo 5-6 cuộn phim.

Trong thư gửi cho tôi, Hai Trung bảo đảm chắc chắn rằng dù chế độ ngụy có sụp đổ Mỹ cũng dứt khoát không can thiệp, không đưa quân trở lại.

Dám trả lời như vậy thiệt là gan.

Tôi cho tráng phim và gửi tất cả tài liệu lên trên, đồng thời gửi báo cáo thuật lại sự khẳng định của Hai Trung. Lúc đó trên cũng đánh giá khả năng Mỹ can thiệp quân sự trở lại là rất hạn chế. Thông tin từ Hai Trung cộng với các nguồn tin tức khác đã góp phần giúp Trung ương khẳng định chính xác tình hình, chớp được thời cơ. Thực tế đã diễn ra đúng như vậy. Ta đã chủ trương đánh mạnh và đánh đến đâu ngụy nhào đến đó, Mỹ đã không can thiệp.

Sau giải phóng, Hai Trung được thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất vì câu trả lời đó”.

Ngày 30.4.1975 xe tăng quân giải phóng ủi sập cổng dinh Độc Lập. Chế độ Sài Gòn cáo chung 

Mặc dù rất khó khăn, thiếu thốn, nhưng cách mạng vẫn sẵn sàng chi những khoản tiền lớn cho các công tác đặc biệt nhưng đối với các công việc của “con át chủ bài” Hai Trung thì cách mạng hầu như không phải lo “kinh phí”. Ông Ba Minh cảm động nhớ lại: “Đối với ảnh, Đảng không tiếc cái gì đâu. Nhưng suốt bao nhiêu năm hoạt động, kinh phí mà cách mạng chi cho Hai Trung là không đáng kể. Khi tôi làm Cụm trưởng, lúc nào cũng giữ hàng chục ngàn USD và rất nhiều tiền Sài Gòn.

Những lần viết thư cho ảnh, tôi thường đề nghị: Kết quả công tác của anh  cùng quý giá. Anh cần bao nhiêu tiền tôi cũng cố lo được cho anh, anh đừng ngại gì cả và đừng để chuyện kẹt tiền mà ảnh hưởng đến công việc.

Anh viết thư trả lời: Anh cứ để tiền đó lo cho anh em mình trong đótôi biết anh em mình thiếu thốn dữ lắm, tôi ở đây sướng hơn anh em nhiều. Thật cảm động.

Chúng tôi ngoài này lo cho ảnh vì thấy cuộc sống của ảnh căng thẳng từng giờ từng phút, còn ảnh thì thương anh em chúng tôi ngoài này.

Cũng có nhiều đồng chí công tác tốt, trung thành, nhưng lối sống không phải không có điều này điều nọ. Như chúng tôi, hồi ấy sống giữa tập thể, xung quanh có đồng đội, có việc gì đều được đồng đội giúp đỡ. Góp ý hàng ngày, hàng tuần, thì chuyện giữ được phẩm chất không có gì lạ. Nhưng Hai Trung mấy chục năm trong lòng địch, không có đồng đội bên cạnh mà giữ phẩm chất cao đẹp của người cách mạng, hoàn toàn không làm bất cứ một điều gì đáng chê trách, thật là đáng khâm phục…”

Kỳ 27: Chuyện phía sau tướng Phạm Xuân Ẩn

Đăng Bởi Một Thế Giới – 19:50 04-06-2015

Bạn đọc đã biết chuyện người anh hùng Hai Thương chấp nhận bị chặt 6 khúc chân để bảo toàn lưới tình báo; rồi chuyện ông Ba Minh dẫn gần 20 chiến sĩ vũ trang đi tìm một địa điểm để bảo đảm liên lạc thuận lợi với Hai Trung, chỉ trong vòng 6 tháng, đã có 5 đồng chí hy sinh, 6 đồng chí bị thương.

 

Ông Tư Cang thì nói, thời ông làm cụm trưởng, trong số 47 chiến sĩ trong đường dây vũ trang của cụm, đã có 25 người, ngã xuống khi làm nhiệm vụ. Và còn rất nhiều, rất nhiều người nữa đã hy sinh để giữ liên lạc thông suốt và bảo đảm bí mật cho Hai Trung.

Ông Mười Nho nói:

“Từ căn cứ đến Hai Trung là cả một hệ thống được tổ chức rất công phu. Trước hết là cụm. Cụm ở ngay Phú Hòa Đông (huyện Củ Chi) đây thôi chứ không ở đâu xa. Nhưng Phú Hòa Đông hồi đó bị giặc cày ủi tan nát, dân thì lúc có lúc không.

Cụm phải bám trụ với dân để làm nhiệm vụ. Còn từ cụm này đến Phòng Tình báo miền phải đi từ Củ Chi lên Tây Ninh đến giáp giới Campuchia, cả một vùng rộng lớn hồi đó bị địch đánh phá vô cùng ác liệt, liên tục chà đi xát lại bằng rất nhiều chiến dịch trong kế hoạch “tìm và diệt” của chúng.

Giao liên từ chỗ Hai Trung mang tài liệu ra ngoại thành đi công khai, ra ngoại thành lên Phú Hòa Đông đi bán công khai, từ Phú Hòa Đông lên Phòng Tình báo miền phải dùng lực lượng vũ trang để chuyển tài liệu, khi một tiểu đội, khi một trung đội, gặp địch thì phải đánh để bảo vệ tài liệu. Nhưng tùy theo tình hình, nếu địch không càn quét lớn thì đi thẳng, còn nếu căng thẳng phải chuyển tiếp nhiều đoạn.

Từ Phú Hòa Đông lên Bời Lời giao cho lực lượng vũ trang của cụm khác, đến núi Bà Đen chuyển cho một cụm khác nữa. Đến căn cứ miền mới có thể gọi là an toàn. Tại đây, tài liệu được Phòng Tình báo miền xử lý, vừa báo cáo cho lãnh đạo miền, vừa báo cáo ra Hà Nội trước hết bằng điện đài, tài liệu gốc chuyển ra sau. Việc chuyển tài liệu ra Hà Nội cũng rất phức tạp, phải sử dụng bằng nhiều phương thức, cả trên bộ lẫn đường biển. Để bảo vệ lưới Hai Trung, chúng ta đã huy động một lực lượng rất lớn và tập trung những cán bộ ưu tú, các cán bộ đó sau này là đại tá cả. Song sự hy sinh của anh chị em, nhất là anh chị em vũ trang là rất lớn”.

Tôi hỏi: “Hồi đó ông Ẩn có biết sự hy sinh đó không?”. Ông Mười Nho: “Chúng tôi không cho biết. Sau giải phóng Hai Trung mới biết”. Mặc dù trong căn cứ không cho ông biết cụ thể về sự hy sinh đó, nhưng với tư cách là một nhà báo, ông Ẩn vẫn hình dung được các đồng chí mình đã hy sinh đến cỡ nào. Sau này, ông đã tìm hiểu rất kỹ về sự hy sinh của đồng đội. Ít nhất là hai lần ông khuyên chúng tôi tìm đọc cuốn sách về An ninh miền, xuất bản công khai từ năm 1995, để biết những chiến công và sự hy sinh lớn lao của các chiến sĩ an ninh, tình báo.

Trong một lần nói với chúng tôi, ông Ẩn buồn bã: “Anh chị em đã hy sinh tới cùng, hy sinh một cách thầm lặng. Mà tình báo lại hoạt động bí mật, rất nhiều trường hợp người chiến sĩ hy sinh, người phụ trách cũng hy sinh. Cho nên đã 27 năm sau giải phóng mà bộ phận chính sách của Tổng cục 2 vẫn phải tồn tại để giải quyết chính sách, nhưng không biết đến bao giờ mới giải quyết xong”.

Tôi bỗng hiểu vì sao ông luôn bảo ông chỉ là một cái chấm nhỏ nhoi trong hệ thống tình báo cách mạng. Ông không muốn làm tướng, không phải vì ông ra vẻ khiêm tốn hay trốn tránh nhiệm vụ. Mặc dù vậy cách mạng cũng phong tướng cho ông. Khi lên tướng, cấp trên bố trí ô tô cho ông nhưng ông nói: “Thôi, tôi có chỉ huy ai đâu mà dùng ô tô nhà nước”.

Mỗi tháng ông mang quân hàm một lần, đó là lúc vào doanh trại quân đội sinh hoạt chi bộ. Ngoài những lúc đó, ông sống như một nguời dân thường. Phạm Xuân Ẩn nổi tiếng là người hay bông lơn, không “kiêng kỵ” bất cứ một thứ gì, nhưng mỗi khi nói đến những người đã hy sinh, hình như trong lòng ông ưu tư nặng trĩu. Tôi cảm nhận điều đó trên nét mặt, trong giọng nói của ông.

Kỳ 28: Sĩ quan quân đội Sài Gòn tự nguyện làm tình báo cho ta

Đăng Bởi Một Thế Giới – 07:04 05-06-2015

Phạm Xuân Ẩn (bìa trái) làm phiên dịch trong đoàn quân sự hỗn hợp Việt – Mỹ

Theo ông Mười Nho, sau khi bị địch đánh phá gần hết vào những năm 57 – 58 – 59, mạng lưới tình báo của ta đã từng bước được củng cố và phát triển. Hàng chục điệp viên đã được cài vào các vị trí quan trọng trong bộ máy chính trị và quân sự của địch, đặc biệt là ở Phủ Tổng thống và Bộ Tổng tham mưu.

Có thể bạn quan tâm

>> Sát thủ 20 tuổi xả súng giết chết 13 người, bị thương 20 người khác tại Mỹ

>> Bài 2: Lừa dối khách hàng, TMV Kangnam liên kết với đối tác ảo ở Hàn Quốc

>> Ông Phó TGĐ “lĩnh lương gần 1 tỉ mỗi năm mà không kiếm được xu tài trợ nào” lên tiếng

Nhiều nhà tình báo như Phạm Ngọc Thảo, Nguyễn Hữu Thúy, Nguyễn Hữu Trí, Vũ Ngọc Nhạ… đã làm những chuyện “long trời lở đất” khiến người Mỹ và chính quyền Sài Gòn kinh hoàng. Hoặc một điệp viên mang bí số H3, chức vụ trong quân đội ngụy chỉ là thượng sĩ, nhưng là bí thư bảo mật cho Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên, hằng đêm đã chép tất cả các tài liệu quan trọng của Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn gửi về căn cứ, chép nhiều đến nỗi sau này gần mù cả hai mắt.

Giải phóng Buôn Ma Thuột ( Đắk Lắk) ngày 10.3.1975, mở đầu chiến dịch giải phóng Tây Nguyên

H3 được ta thăng quân hàm thượng tá và phong anh hùng. Thời kỳ cao điểm có tới mười, mười lăm lưới phát huy tác dụng, nhưng cũng có thời kỳ chỉ phát huy tác dụng được năm, ba lưới. Có những lưới được tổ chức rất chặt chẽ, đưa những điệp viên tinh nhuệ thâm nhập sâu vào bộ máy của địch, nhưng cũng có những lưới ta chỉ “ăn xổi”, tức là tuyên truyền, vận động quan chức, sĩ quan quân đội Sài Gòn giác ngộ cách mạng, để họ thấy được chính nghĩa rồi tự nguyện làm tình báo cho ta. Những lưới “ăn xổi” đó cũng rất quan trọng, cung cấp cho ta nhiều tin tức, tài liệu có giá trị, nhưng rất dễ bị lộ.

Ông Mười Nho cho biết: “Có một lưới như vậy bị bể hồi năm 1968. Thằng Mỹ bàng hoàng không hiểu nổi bởi trong lưới đó có rất nhiều giáo sư, trí thức cỡ bự, có sĩ quan cấp tá và có cả ký giả nước ngoài. Họ làm tình báo cho ta vì sức hấp dẫn của chính nghĩa thu hút họ”.

Riêng lưới của Phạm Xuân Ẩn rất đặc biệt, chỉ có một người (trước đó có bà Tám Thảo, do bà giúp ông Ẩn liên lạc lại với tổ chức, nhưng bà Tám Thảo không hoạt động chung với ông Ẩn và từ năm 1969 tổ chức đã rút bà ra chiến khu) và tồn tại trong thời gian dài nhất, suốt 23 năm, từ những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp đến hết cuộc kháng chiến chống Mỹ.

“Chống Mỹ mà hoạt động trong lòng địch là vô cùng khó khăn. Vì hệ thống chống gián điệp của Mỹ là cực mạnh. Cán bộ ta hoạt động trong lòng địch mà tồn tại được chủ yếu là do dân bảo vệ. Nhưng Hai Trung thì mình chỉ dựa vào mình, suốt trong hai mươi mấy năm căng thẳng từng ngày, sức chịu đựng quả là ghê gớm”, ông Mười Nho nói.

Ông Ẩn nói trong những năm đó ông “sợ thường xuyên”. Ban đêm, ông thường mang tài liệu về nhà, chụp ảnh, viết báo cáo. Một hôm đang viết, bằng nước cơm trên giấy xi măng, đứa con gái 6 tuổi bỗng chạy vào đứng sau lưng, ông bảo với con rằng ông đang viết báo. Sáng hôm sau cô bé nói với anh trai: “Ba viết bằng mực gì mà không thấy chữ”. Ông hoảng hồn gọi con gái lại giải thích: “Hôm qua do đèn chói mắt, con không thấy đó thôi”. Đến tối ông phải gọi con gái xem ông viết báo bằng mực thật để xóa đi sự thắc mắc của con, vì nếu cô bé đem thắc mắc đó kể với bạn, người khác nghe được thì coi như bị lộ. Sư căng thẳng trong ông là thường trực, nhiều khi ngay trong nhà mình.

 

Nhà báo Phạm Xuân Ẩn trong một chuyến đi theo tướng Mỹ thị sát chiến trường. Ông Ẩn là người ngậm thuốc lá và đang ghi chép 

Ông Ba Minh kể lại: “Lúc gần giải phóng, Hai Trung có viết cho tôi một lá thư. Ảnh tâm sự: Tôi là đảng viên hoạt động hơn hai mươi năm trong lòng địch. Một cán bộ cách mạng mà gần hết cả cuộc đời dưới mắt nhân dân mang cái danh làm tay sai cho địch thì căng thẳng quá. Bây giờ đất nước gần giải phóng rồi. Tôi xin anh báo cáo với tổ chức, giải phóng xong cho tôi được làm một người bình thường. Nhận thư ảnh tôi suy nghĩ nhiều lắm. Thương ảnh vô cùng. Bản thân tôi từ khi tham gia kháng chiến, được sống giữa đồng đội, sống giữa lòng dân, đánh giặc mấy chục năm cũng căng thẳng, mình đã vậy huống chi ảnh căng thẳng triền miên trong lòng địch. Nguyện vọng của ảnh cũng đúng quá. Tôi viết báo cáo gửi lên trên trình bày lại nguyện vọng của ảnh và nói những suy nghĩ của tôi. Công lao của ảnh đối với đất nước lớn quá, sự hy sinh của ảnh cũng lớn quá”.

Kỳ 29: Tính chuyên nghiệp của một tập thể Tình báo anh hùng

Đăng Bởi Một Thế Giới – 06:10 05-06-2015

Trong chiến thắng vang dội ngày 30-4-1975 có những đóng góp lặng thầm của cụm tình báo H63

42 chiếc kỷ niệm chương đã được Tổng cục 2 trao tặng cho từng người. Người “trẻ” nhất cũng đã ngoài 50, người già thì đã 85 tuổi, nhưng tất cả đều hồn nhiên, vô tư… Gặp những người của H.63, mới thấy hết tính chuyên nghiệp trong một tập thể tình báo anh hùng…

 

Năm 1971, Cụm Tình báo quân sự H.63 được tuyên dương “Đơn vị anh hùng Quân giải phóng miền Nam Việt Nam” và được trao cờ danh dự “Mười năm bám trụ Củ Chi”.

Chúng tôi may mắn được tháp tùng Cụm trưởng Tư Cang về Phú Hòa Đông dự buổi gặp mặt các cán bộ, chiến sĩ trong Cụm. Vợ chồng ông Ba Minh đến từ sáng sớm “để lo hậu cần”, còn ông Tư Cang thì đưa “khách” từ thành phố lên. Nói là “khách” nhưng chỉ là người trong Cụm, cộng với ba phóng viên Báo “ăn theo”. Chiếc ô tô 32 chỗ ngồi đưa đón khách cũng đặc biệt. Đó là xe của Phó Tổng Giám đốc Công ty Dịch vụ bảo vệ Long Hải kiêm Tổng Giám đốc Công ty Du lịch APEX Nguyễn Văn Trấn – một chiến sĩ vũ trang trong Cụm.

Tất cả là “cây nhà lá vườn”. Ông Tư Cang nói: “Đây là cuộc gặp lần thứ hai, để trao Kỷ niệm chương tình báo quốc phòng cho cán bộ, chiến sĩ trong Cụm nhân 57 năm Ngày truyền thống của ngành: Lần trước, kinh phí Tổng cục 2 lo, lần này do anh chị em góp”.

Thiếu tướng Nguyễn Đức Trí, Thủ trưởng cơ quan tình báo miền, các Cụm trưởng Tư Cang, Ba Khắc, Ba Minh, Cụm phó Ba Thanh, anh hùng Nguyễn Thị Ba và hầu hết cán bộ, chiến sĩ ngày nào đều có mặt.

Rất tiếc, ông Ẩn sức yếu không thể đi xa bằng ô tô được nên không đến, ông Mười Nho cũng ốm không đến được.

 Cụm trưởng H63-J22 Tư Cang hạnh phúc giữa người thân, đồng đội cũ.

Củ Chi là căn cứ của Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu Sài Gòn – Gia Định, nơi có một hệ thống địa đạo huyền thoại, là kỳ công, kỳ tích của chiến tranh nhân dân. Đây là một trong những nơi bị địch đánh phá ác liệt nhất, tàn khốc nhất, nhưng là “Đất thép thành đồng” của cách mạng ngay cạnh Sài Gòn. Tính đến năm 1975, trong 15 năm liên tục, H.63 đã lấy Củ Chi làm bàn đạp để bảo đảm chỉ đạo và liên lạc thông suốt giữa cấp trên với con át chủ bài tình báo Việt Nam Phạm Xuân Ẩn ở trung tâm Sài Gòn,

Họ ôn lại rất nhiều những kỷ niệm. Đó là chuyện trận đầu diệt Mỹ đầu năm 1966. Một cánh quân Mỹ theo đường 15 từ An Nhơn Tây tiến về căn cứ của Cụm ở Phú Hòa Đông. Một tổ 3 người gồm Tư Cang, Tư Lâm và Năm Hải bình tĩnh chờ.

Ông Tư Cang phân công rành rẽ: “Tôi bắn thằng chỉ huy, anh Năm mần thằng mang vô tuyến điện, còn Tư Lâm thì lắp AT bắn vào tháp xe tăng”. Lúc chỉ còn 100 mét, 3 tiếng súng nổ. Tên chỉ huy gục ngã, thằng mang vô tuyến điện lộn nhào xuống ruộng và một bựng khói trùm lên tháp xe tăng. Bọn Mỹ kinh hoàng phản kích loạn xạ. Trực thăng chúng hạ xuống lấy xác. Một phát AT và thêm mấy loạt súng trường bắn vào máy bay địch, cả tổ dở nắp hầm chui xuống địa đạo. Sáng hôm sau, khi quân Mỹ đã rút, lên quan sát thấy lẫn trong đám rác rưởi bông băng có một băng vải màu đỏ mang con số 1 to tướng.

Thì ra chúng thuộc Sư đoàn bộ binh số 1, biệt danh “Anh cả đỏ” khét tiếng.

Rồi chuyện diệt gọn một tổ giặc Mỹ trong lòng địa đạo, kèm theo một bài tấu, mà ông Tư Cang làm về trận này hồi đó “được giải thưởng trong hội diễn văn nghệ”, chuyện dùng giấy tờ giả “qua mặt” địch vào Sài Gòn, chuyện cô Út Trí nấu cơm bị Mỹ chụp nhưng đã mưu trí thoát chết, chuyện cô Tám Thảo cứu sống ông Tư Cang giữa Sài Gòn hồi Mậu Thân, chuyện bà Ba anh hùng, chuyện H.63 vinh dự được “anh hùng trước” các cụm khác, chuyện ông Ba Minh lấy vợ cho đến bây giờ vẫn “nợ ông Tư Cang một cái đầu heo”…

Giữa những tiếng cười vui xen những giọt nước mắt, giọng ông Tư Cang lắng lại: “Xương máu anh em đã đổ rất nhiều… Nhưng từ bàn đạp này, chúng ta đã trao lại Phạm Xuân Ẩn và cả đường dây bí mật còn nguyên vẹn cho cách mạng”.

Thiếu tướng Nguyễn Đức Trí xúc động: “H.63 là Cụm tình báo tinh nhuệ, là đơn vị chiến đấu giỏi, đủ sức bám trụ an toàn, bảo vệ đơn vị khi địch đông hơn. Trong Cụm có nhiều chiến sĩ chiến đấu giỏi, diệt được nhiều địch, có nhiều dũng sĩ diệt Mỹ, đánh tan xác nhiều xe tăng, thiết giáp và máy bay của địch. Cán bộ, chiến sĩ của chúng ta bao phen gan lỳ chịu đựng trong tình hình ác liệt, đã vượt qua nhiều hiểm nguy, thử thách trong suốt 15 năm trời. Nào là bị bắt đánh chết tại chỗ, nào là chịu đựng khảo tra với nhiều hình thức dã man tàn bạo như cắt chân, mổ bụng cho đến chết…Tuy ác liệt là vậy “nhưng chúng ta đã không để một chuyến liên lạc nào bị đứt, dù chỉ một ngày”.

42 chiếc kỷ niệm chương đã được Tổng cục 2 trao tặng cho từng người. Người “trẻ” nhất cũng đã ngoài 50, người già thì đã 85 tuổi, nhưng tất cả đều hồn nhiên, vô tư, trong trắng… Gặp những người của H.63, mới thấy hết tính chuyên nghiệp trong một tập thể tình báo anh hùng.

Kỳ 31: Người trợ thủ đắc lực của tướng Ẩn

Đăng Bởi Một Thế Giới – 07:51 07-06-2015

Có thể nói, nghề giao liên của bà Ba đã đạt đến “cảnh giới thượng thừa”. Suốt mấy chục năm, bà đã qua mặt mạng lưới kiểm soát dày đặc của địch một cách “như không”, nhiệm vụ nào bà cũng hoàn thành một cách xuất sắc. Bà được coi là “mô hình” hoàn hảo của công tác giao liên tình báo.

 

-Có trường hợp nào bà bị mất tài liệu không ?

-Không. Liên lạc với ông Hai Trung mười mấy năm tôi không bị mất tài liệu bao giờ. Tôi chưa bao giờ bị lộ, chưa bao giờ bị bắt bớ tù đày.

-Ông Hai Trung gửi tài liệu cho bà bằng cách nào ?

-Ổng thường đưa cho tôi những cuộn phim bằng ngón cẳng cái, lần thì năm, bảy cuộn, lần thì mười mấy cuộn, gói thành những cái nem, ổng gói sẵn. Gặp trong tiệm nước xong, ổng đưa tôi lên xe chạy lòng vòng một đoạn rồi bỏ tôi xuống, nhắc tôi nhớ lấy xâu nem. Tôi cho vào giỏ, có cả nem giả (những cuộn phim) và nem thiệt, mua thêm một ít trái cây, bó nhang, giả đi đám giỗ. Nem thiệt thì bỏ lên trên, nem giả bỏ xuống dưới. Cũng có khi phim được ổng bỏ trong gói mì hoặc gói bánh. Còn tài liệu thì ổng thường viết trên giấy xi măng bằng thứ mực không nhìn thấy, tôi dùng giấy đó để gói đồ, bỏ vào giỏ chuyển đi.

-Nếu bị lục soát thì bà làm sao hủy những cuộn phim ?

-Bị bắt thì chịu chứ làm sao hủy được. Vì nhiều lắm chứ đâu phải một, hai cục. Mà nem thịt thì nhẹ và mềm, còn nem phim thì nặng và cứng ngắc à, nếu chúng nó khôn giũ ra thì biết liền. Nhưng mình phải khéo chứ. Đi lại thì bình thường, không được lấm la lấm lét. Lên xe thì đừng chun vào trong hóc mà phải ngồi ngoài cửa, để khi nó xét thì chủ động đưa cho nó coi: “Đây mấy cậu cứ coi đi để tôi đi”. Nó thấy mình “tử tế” nó không để ý. Nếu nó thấy mặt mình tai tái là nó nghi ngờ ngay. Thỉnh thoảng gặp người quen tôi cũng mừng lắm, nhưng chỉ mừng trong bụng thôi chứ không dám chạy đến mừng ra mặt. Tôi không sợ lính xét mà chỉ sợ những đứa chỉ điểm.

-Bà đưa tài liệu tới đâu ?

-Ra đến ngoại thành thì giao cho người khác. Chuyến nào đặc biệt thì tôi đưa ra khỏi Hóc Môn. Thường thì trên chuyến xe đò, người giao thông nhận chuyển tiếp tài liệu ngồi phía trước, tôi ngồi phía sau, đề phòng bị lộ thì tránh được.

-Tài liệu không được chuyển qua hộp thư “chết” à ?

-Vài lần đầu thì có, đặt ở những gốc cây, nhưng làm như vậy dễ bị lộ. Nên sau đó toàn hẹn nhau giữa chỗ đông người, gặp lần trước rồi hẹn địa điểm, ngày giờ cho lần sau.

-Trước giải phóngcó lần nào bà vô nhà ông Hai Trung chưa ?

-Đâu có được. Phải giữ cho ổng chớ. Ổng cũng đâu biết chỗ tôi ở. Đó là nguyên tắc, lỡ bị bể không ảnh hưởng đến nhau. Tôi thương ổng lắm, ổng bịnh hoài. Tôi bảo: “Cậu ráng uống thuốc để giữ gìn sức khỏe”. Ổng nói: “Tôi thấy chị xa chồng, xa con, công việc rất cực khổ. Còn tôi có gia đình, sướng hơn chị, còn được chị động viên. Nhờ chị động viên mà tôi công tác tốt”.

 

 Lãnh đạo tỉnh Long An trao huy hiệu 70 năm tuổi đảng cho bà Ba

-Hồi đó bà sống bằng gì ?

-Trước thì buôn bán lặt vặt không cố định, sau bán đồ chơi bằng vàng giả cho trẻ con. Buôn bán phải đàng hoàng để kiếm sống. Hồi đó tôi cũng hay bị bịnh, bị sốt hoài à, nhưng ngày nào cũng phải đi bán, không dám nghỉ sợ người ta nghi “bà già này làm cầm chừng làm sao đủ sống ?”. Tới tết, tôi đi ngoài đường nghe con người ta kêu “Má ơi!” tôi nhớ con đứt ruột.

-Ông Hai Trung có thường động viên bà ?

-Có chớ. Ổng còn hay đưa tiền cho tôi, ổng nói: “Chị hay bị bịnh, lấy ít tiền mua thuốc uống”. Tôi nói: “Cậu cất đi, tôi có tiền mà”, ông cứ rầy tôi hoài về chuyện này.

-Tổ chức có cấp tiền cho bà không ?

-Khi kẹt quá tôi mới xin mấy ổng. Lúc quần áo cũ quá sắp rách tôi cũng xin tiền may đồ mặc.

-Từ sau giải phóng, bà có hay gặp ông Hai Trung không?

-Gặp hoài à! Tôi cũng thường ghé nhà cậu. Dạo này cậu hay bịnh lắm, mà vẫn hút thuốc quá nhiều, tôi nói không chịu nghe.

Kỳ 32: Vị tướng tình báo cách mạng 2 lần bị… phe ta bắt, dân ném đá

Đăng Bởi Một Thế Giới – 15:50 08-06-2015

Bốn đồng đội cũ của tướng Phạm Xuân Ẩn (ở hai bên, từ trái sang) Tám Thảo, Sáu Trí, Tư Cang và Mười Hương bên tấm bảng đồng.

Theo lời giới thiệu của ông Tư Cang: “Hai Trung có lần vào cứ ở lại đêm. Có anh Sáu Trí trên R xuống làm việc. Hồi đó anh là Trưởng phòng Tình báo miền, tôi làm Phó Chánh ủy kiêm Cụm truởng. Ông Chánh ủy bây giờ cũng còn, 3 ông Phó phòng thì đều đã không còn. Sau này anh Sáu Trí là thiếu tướng, tên khai sinh là Nguyễn Văn Khiêm, tên chống Pháp là Phạm Duy Hoàn, tên chống Mỹ là Nguyễn Đức Trí, hiện ở cách nhà tôi 200 mét đây thôi”, chúng tôi đã tìm gặp ông Sáu Trí.

 

Thiếu tướng tình báo Nguyễn Đức Trí là một nhân vật đặc biệt bí ẩn. Năm 1975, ông vào Sài Gòn nhiều ngày trước giải phóng và có mặt ở Dinh Độc Lập để tham gia giải quyết những vấn đề chính trị xung quanh việc đầu hàng của Dương Văn Minh, ông cũng là người thảo quân lệnh số 1 của ủy ban Quân quản. Là người phụ trách tình báo miền trong giai đoạn cuộc kháng chiến chống Mỹ diễn ra ác liệt nhất, ông biết rất rõ về Phạm Xuân Ẩn cũng như toàn bộ mạng lưới tình báo của ta.

Ông Sáu Trí khi chúng tôi gặp vừa thoát khỏi cơn tai biến não hiểm nghèo, sức khỏe đã yếu. Tuy vậy ông đã rất vui vẻ tiếp chúng tôi tại nhà riêng. Bà Nguyễn Thị Minh – vợ ông Sáu Trí – và ông Tư Cang đã tự nguyện làm “phiên dịch” những chỗ ông nói khó nghe. Câu chuyện xoay quanh các Cụm Tình báo, các điệp viên, nhất là Cụm Tình báo H.63 và Phạm Xuân Ẩn và đặc biệt là câu chuyện ly kỳ về đời hoạt động của ông.

 

Thiếu tướng tình báo Nguyễn Văn Khiêm (Sáu Trí, bìa phải) và Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). 

Thiếu tướng Nguyễn Đức Trí tham gia cách mạng năm 1945, từ đó cả đời ông làm công tác tình báo. Trong kháng chiến chống Pháp ông làm Phó ban Quân báo khu 7. Năm 1953, để chuẩn bị cho kế hoạch lâu dài, người cán bộ tình báo Việt Minh này đã vào Sài Gòn, tận dụng được các mối quan hệ thân quen, vào làm thư ký trong Nha Công an Nam phần, là cơ quan chóp bu về an ninh của địch, nơi nắm giữ những tài liệu tối mật. Sau Hiệp định Genève, ông tiếp tục làm việc ở Tổng nha Cảnh sát chế độ Ngô Đình Diệm, làm sĩ quan cảnh sát.

Theo ông Tư Cang: “Nhiệm vụ chính của ảnh lúc đó là nắm các tin tức càn quét của địch để có kế hoạch bảo vệ Xứ ủy Nam Bộ và Thành ủy Sài Gòn – Gia Định”. Đến cuối năm 1962 thì bị lộ, chạy về được chiến khu. Lên chiến khu, ông làm Cụm trưởng Cụm Tình báo A20 (sau này đổi thành H.67, cũng như A18 đổi thành H.63, cả hai cụm này đều được phong anh hùng), sau đó lên Trung ương Cục làm Phó phòng Quân báo phụ trách khối điệp báo. Năm 1968, ông làm Trưởng phòng Tình báo miền…

Bà Nguyễn Thị Minh: Ổng làm cách mạng không bị địch bắt lần nào mà đến hai lần bị quân ta bắt.

Lần thứ nhất ông Sáu bị bắt hồi nào?

Bà Minh: Hồi chống Pháp, khi ổng học xong ở ngoài Bắc rồi vô trong này, bị kháng chiến bắt nhốt ở Đồng Tháp Mười, cái vùng “muỗi kêu như sáo thổi đỉa lềnh tựa bánh canh” đó. Ổng xuống dưới hoạt động bị bắt nhầm.

Còn lần thứ hai ?

Ông Sáu Trí: Cuối năm 1962, tôi bị lộ, do một tên phản bội. Hắn chính là tay tổ trưởng ngoài căn cứ, bị địch bắt kín rồi khống chế, vẫn để liên lạc với tôi, rất nguy hiểm. Tôi phát hiện kịp âm mưu nên bỏ trốn.

Bà Minh: Ổng bị lộ bỏ trốn nên tụi nó đã bắt tôi thay ổng. Tôi không khai nhận gì hết, chúng lại không có chứng cứ, tôi bị giam hơn 1 năm rồi được thả. Hồi đó sau đảo chánh 1963, những người bị bắt không có chứng cứ đều được thả.

Lần đó vì sao ông bị cách mạng bắt ?

Ông Sáu Trí: Tôi chạy về quê ở xã An Hòa, Gò Công, Tiền Giang. Lúc đó ba má tôi có mướn một người chăm sóc vườn trầu, người đó biết tôi là cảnh sát ngụy cho nên chỉ cho du kích bắt…

Ông Tư Cang: Lúc du kích dẫn ảnh đi trên đường, dân xúm lại dùng sình, dùng đá chọi ảnh.

Khi bị bắt, ông có cho du kích biết ông là cách mạng không?

Có chớ. Tôi có bảo tôi là người của cách mạng, cho tôi được gặp lãnh đạo nhưng họ không tin.

Ông Tư Cang: Hồi đó dân Gò Công mới nổi lên chống Mỹ, căm thù Việt gian bán nước ghê gớm lắm…

Kỳ 33: Buôn Mê Thuột, chiến trường hiểm yếu nhất

Đăng Bởi Một Thế Giới – 05:56 09-06-2015

Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn (bìa phải).

Trong kháng chiến chống Mỹ, ta có nhiều Cụm, nhiều lưới tình báo. Và cụm nào, lưới nào cũng hoạt động xuất sắc, lấy được nhiều tài liệu có giá trị phục vụ đắc lực cho lãnh đạo kháng chiến đánh bại chiến tranh xâm lược của Mỹ.

 

Ông bị du kích bắt giam bao lâu ?

Ông Sáu Trí: Tôi bị giam 3 tháng, cùng với 13 người. Đến một đêm, họ đem tôi nhốt vào một ngôi đình cùng với một phụ nữ, chuẩn bị để hôm sau đem cả hai ra xử bắn. Đêm đó, họ tiến hành thẩm vấn lần cuối cùng. Tôi thì du kích hỏi hơi dài, phải viết tới hai, ba tờ giấy. Nên khi vô đình đã thấy người phụ nữ nằm trong mùng rồi, mà mùng thì chỉ có một cái. Tôi nghĩ rất nhanh điều gì sẽ xảy ra, rồi bước qua một bên, dùng áo mưa quét sạch một chỗ và nằm xuống. Lúc bấy giờ khoảng 12 giờ đêm. Người du kích gác bên ngoài bước vào hỏi: “Sao không vào mùng ngủ ?” Tôi nói: “Người trong mùng là phụ nữ, vào đó không tiện, vả lại đây là nơi tôn nghiêm”. Khoảng 3 giờ sáng, du kích dẫn cô gái đi, tôi ngủ đến 6 giờ, không thấy đem đi xử bắn mà đưa về nhốt ở chỗ tôi bị nhốt mấy tháng qua…

Ông Tư Cang: Khi anh Sáu nói mình là cách mạng, du kích không tin, nhưng họ cũng tìm cách báo lên trên. Đêm đó du kích đứng ngoài dòm vào coi thử thái độ của anh Sáu. Nếu ảnh mà chui vào mùng thì chắc đã bị “bùm” luôn rồi.

Bà Minh: Vì chui vô mùng là người không đứng đắn, mà không đứng đắn thì không thể là người cách mạng.

Ông Tư Cang: Khi du kích báo lên Huyện ủy Gò Công. Huyện ủy báo lên Trung ương Cục, Trung ương Cục hỏi bên Quân báo, lúc này ông Ba Trần (Trần Văn Danh, sau này là thiếu tướng) phụ trách Quân báo miền biết rõ anh Sáu, nên điện xuống, họ mới thả ra.

Ông Sáu Trí: Khi liên hoan chia tay, người huyện ủy viên phụ trách xã đó nói với tôi: “Lúc đó mà anh chui vô mùng thì tôi đã cho bắn anh rồi chứ không chờ xác minh nữa đâu, đến khi xác minh được anh là người cách mạng thì tôi chỉ có thể mang nhang đèn ra mộ lạy anh và nhận lỗi với cấp trên thôi chứ biết làm thế nào được”.

 

 Những vị tướng làm công tác tình báo giỏi nhất trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (từ trái qua là Nguyễn Đức Trí, Đặng Trần Quốc, Trần Văn Danh, Vũ Ngọc Nhạ, Đào Trọng Mỹ).

Mặc dù bệnh não khiến ông nói rất khó khăn, nhưng trong câu chuyện với chúng tôi, ông Sáu Trí vẫn thể hiện một tư duy rất sắc sảo. Ông bảo trong kháng chiến chống Mỹ, ta có nhiều Cụm, nhiều lưới tình báo và Cụm nào, lưới nào cũng hoạt động xuất sắc, lấy được nhiều tài liệu có giá trị phục vụ đắc lực cho lãnh đạo kháng chiến đánh bại chiến tranh xâm lược của Mỹ.

Về Cụm tình báo H.63 và ông Hai Trung, ông Sáu Trí nhận xét: “Đây là Cụm tình báo lý tưởng, là một mô hình ưu việt”.

Đề cập đến những đóng góp của ông Hai Trung trong giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, đặc biệt là phục vụ cho chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử 1975, ông Sáu Trí cho biết thêm: “Ngoài các tài liệu khác, Hai Trung còn gửi một tài liệu rất quan trọng của Ban Nghiên cứu chiến lược chính quyền Sài Gòn do tướng Nguyễn Xuân Triển làm chủ tịch. Lần thứ nhất Hai Trung gửi bản tóm tắt, lần thứ hai gửi tài liệu nguyên bản.

Đó là bản nghiên cứu chiến lược gửi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Trong đó nêu rõ tình hình suy sụp của quân đội Sài Gòn, khẳng định Mỹ không thể can thiệp để cứu chính quyền Sài Gòn trong bất cứ tình huống nào vì áp lực quá căng thẳng của phong trào phản chiến ở Mỹ: quân Mỹ sẽ không trở lại miền Nam, Hạm đội 7 của Mỹ không trở lại biển Đông, Mỹ không sử dụng lại pháo đài bay B52 ở chiến trường Đông Dương, Mỹ tiếp tục cắt giảm ngân sách viện trợ cho Việt Nam, kể cả quốc phòng.

Đặc biệt, bản nghiên cứu còn chỉ rõ rằng, trong bố trí lực lượng và chiến trường, chỗ yếu nhứt và khó bảo vệ nhứt là chiến trường Tây Nguyên, Quân khu 2; ở Quân khu 2, chiến trường hiểm yếu nhứt là Buôn Mê Thuột, nếu cộng sản đánh Buôn Mê Thuột thì toàn bộ hệ thống phòng thủ ở Tây Nguyên sẽ đổ vỡ, phải bỏ về phòng thủ đồng bằng.

Lúc đó Bộ Tổng Tư lệnh của ta cũng đã có ý nghĩ mở màn chiến dịch mùa khô 1975 đánh vào Buôn Mê Thuột là khu vực yếu nhứt, hiểm nhứt trong hệ thống phòng thủ của quân đội Sài Gòn. Tài liệu đó do Hai Trung gửi về cùng với các tài liệu khác đã giúp cho lãnh đạo ta những thông tin đáng tin cậy để nhận định chính xác về tình hình địch, nên ta đánh thong dong lắm. Ta đánh Buôn Mê Thuột chúng bỏ Buôn Mê Thuột…”.

Kỳ 34: Với Phạm Xuân Ẩn, “Không được nói láo” với cấp trên

Đăng Bởi Một Thế Giới – 09:35 10-06-2015

Các nhà tình báo nổi tiếng của Việt Nam trong một lần gặp mặt. (Hàng dưới từ trái qua: Ông Vũ Ngọc Nhạ, ông Hoàng Mỹ, ông Trần Quốc Hương; hàng trên, thứ hai và thứ ba từ trái qua: ông Hà Mai và ông Phạm Xuân Ẩn).

Với Phạm Xuân Ẩn: “Không được nói láo”. “Không nói láo” với cấp trên của mình, tức “không báo cáo theo khẩu vị” của cấp trên, Điều đó khiến ông trở thành người đáng tin cậy, do vậy những thông tin  thật sự có ích cho cách mạng, vì được đánh giá đúng mức.

Giữa lúc Mỹ ào ạt đổ quân vào miền Nam, mở rộng chiến tranh bằng không quân ra miền Bắc, cấp trên yêu cầu hoạt động điệp báo phải tuyệt đối không để lãnh đạo bị bất ngờ về chiến lược, ông Sáu Trí lúc đó là Phó phòng Quân báo miền, phụ trách khối điệp báo, đã tiếp xúc với các điệp viên để nắm tình hình và trực tiếp phổ biến nhiệm vụ.

Người đầu tiên ông Sáu Trí gặp là Hai Trung.

“Nói chuyện cả đêm với Hai Trung rất thú vị, đồng chí ấy hiểu biết về tình hình địch rất rộng và sâu”, ông Sáu Trí nhớ lại.

Ông kể: “Sau khi tranh thủ phổ biến Nghị quyết của Trung ương, tôi truyền đạt ý kiến của Quân ủy Miền biểu dương các báo cáo và tài liệu Hai Trung gửi về, đó là sự đóng góp rất lớn phục vụ sự chỉ đạo chiến lược của Đảng, góp phần giành thắng lợi trên chiến trường. Tôi thông báo đồng chí được thưởng Huân chương Chiến công hạng hai.

Đồng chí Hai Trung thông suốt với nhiệm vụ tình báo được giao, chỉ có phần huân chương được trao thì đồng chí xin gửi lại tổ chức giữ, đồng chí mong ước sẽ được đeo nó sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhiệm vụ của đồng chí hoàn thành, chứ không muốn đeo nó trong các trường hợp khác, ý đồng chí muốn nói là sẽ không nhận Huân chương trong trường hợp bị lộ chạy ra căn cứ”.

Nhận xét về tinh thần trách nhiệm và sự trung thực của Hai Trung, ông Sáu Trí nói: “Hai Trung không báo cáo theo khẩu vị của cấp trên”, nghĩa là sau khi thu thập thông tin tình báo, phối kiểm nhiều nguồn, tình hình địch như thế nào thì Hai Trung báo cáo như thế ấy, kể cả những diễn biến trái với nhận định của trên, trái với chỉ thị về nhiệm vụ, Hai Trung vẫn báo cáo một cách trụng thực.

Ông Sáu Trí dẫn chứng: “Nghị quyết Trung ương năm 1963 có nêu ta quyết khoanh địch trong chiến tranh đặc biệt, buộc địch phải chịu thua; và ta sẵn sàng đối phó và giành thắng lợi nếu Mỹ trực tiếp tăng cường và leo thang chiến tranh. Trong chỉ đạo tình báo, vì tình cảm muốn chiến tranh sớm chấm dứt, nên ta nhấn mạnh việc “buộc Mỹ phải chịu thua trong chiến tranh đặc biệt” khi phổ biến các yêu cầu điều tra.

Nhưng ông Hai Trung, trong các báo cáo tình báo kèm theo tài liệu dẫn chứng, đã thẳng thắn: “Tôi không thấy bất cứ triệu chứng nào Mỹ chịu rút lui, chịu thua ta. Tôi chỉ thấy bằng cớ rất rõ ràng là Mỹ đang tăng cường chiến tranh, tăng quân, quyết tiêu diệt kháng chiến. Các anh nên khẩn trương đối phó với mưu đồ leo thang chiến tranh là đúng nhứt”.

Là người chỉ huy cơ quan tình báo miền ở giai đoạn quyết liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, ông Sáu Trí không những biết rõ lai lịch, thành tích, công trạng, các thế mạnh cũng như nhược điểm của từng điệp viên mà còn hiểu rõ bản chất, cá tính của họ. Mỗi người một nhiệm vụ, mỗi người một hoàn cảnh, họ có những đường đi nước bước khác nhau trong một chiến trường đặc biệt cam go, nhưng đều vượt qua thử thách và hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc.

Ông Sáu Trí có thể nói một cách tường tận về hoạt động của từng người, phân tích giá trị, ý nghĩa của những tài liệu mà họ gửi về. Tiếc rằng trong phạm vi của một ký sự về Phạm Xuân Ẩn, chúng tôi chưa có dịp đề cập đến những lưới tình báo khác.

Trở lại chuyện của Phạm Xuân Ẩn, ông Sáu Trí nói: “Các lưới tình báo đều đáp ứng kịp thời yêu cầu của cấp trên. Chúng ta có đầy đủ các tin tức, tài liệu về tình hình địch để phục vụ cho lãnh đạo, trong đó tài liệu của Phạm Xuân Ẩn là nhiều nhất. Tất cả đều được Phòng Tình báo miền xử lý và báo cáo trực tiếp với lãnh đạo trên chiến trường như đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Văn Thái, Lê Đức Anh… Khi báo cáo tài liệu đó là của X.6 (bí số của Phạm Xuân Ẩn) thì các đồng chí lãnh đạo rất yên tâm”.

Tôi nhớ lời ông Ẩn: “Không được nói láo”. “Không nói láo” với cấp trên của mình, tức “không báo cáo theo khẩu vị” của cấp trên, điều đó khiến ông trở thành người đáng tin cậy, do vậy những thông tin của ông thật sự có ích cho cách mạng, vì được đánh giá đúng mức.

Nhưng sự “không nói láo” của ông Ẩn không chỉ có vậy, vì cả với “đối phương” ông cũng không nói láo. Nguyên tắc xử thế của ông là “cái gì nói được phải nói thật, còn cái gì không nói được thì không nói, chứ không nói láo”. Nghe qua thì thấy rất lạ lùng, nhưng nghĩ kỹ mới thấy “công phu” trong nghề tình báo ở con người này quả là “thâm hậu”. Một người mà nói cái gì cũng thật thì người đó không bị ai nghi ngờ. Đó chính là sự “bảo mật” cao nhất. Và trên hết, “không nói láo” là biểu hiện của nhân cách. Nhân cách ấy không phù hợp với nghề “gián điệp” một tí nào, nhưng là phẩm chất nguyên vẹn trong con người Phạm Xuân Ẩn, trong nhiều “điệp viên cộng sản”. Đối với các nhà nghiên cứu chính trị, quân sự phương Tây, điều này vẫn còn nằm trong góc bí ẩn của chiến tranh Việt Nam…

Kỳ 35: Giá trị của thông tin tình báo

Đăng Bởi Một Thế Giới – 04:42 11-06-2015

Khánh thành bảng đồng ghi nhớ thời gian hoạt động của Phạm Xuân Ẩn tại khách sạn Continental

Phạm Xuân Ẩn nói: “Điệp báo dù lấy được tài liệu gì đi nữa thì giá trị nhiều lắm cũng đến 50%, 50% giá trị còn lại thuộc về phân tích, đánh giá”. Như chúng tôi đã đề cập, ông Ẩn đánh giá rất cao trình độ phân tích, xử lý thông tin tình báo của cấp trên. Theo ông, cái giỏi trong công tác tình báo của ta chủ yếu là ở chỗ đó…

 

Trước khi cung cấp thông tin cho lãnh đạo, các bản tin tình báo, kể cả các tài liệu gốc do điệp viên gửi về đều được cơ quan nghiên cứu của Phòng Tình báo miền kiểm tra, phân tích, rút ra được những vấn đề cốt lõi. Lãnh đạo yêu cầu các bản báo cáo tình báo phải chính xác, cập nhật, phát hiện được những tin tức “nghi binh”, những tin tức “đầu độc”, do cơ quan tình báo của địch cố ý tung ra nhằm làm cho cơ quan tình báo của ta đánh giá sai lệch tình hình.

Ông Sáu Trí cho rằng, người làm công tác tình báo phải tránh hiểu địch theo sự đánh giá của ta qua các Nghị quyết của Đảng hoặc theo ý muốn chủ quan của người viết báo cáo, không nên lồng sự suy nghĩ, đánh giá chủ quan vào nội dung tài liệu của địch mà phải hiểu địch “theo kiểu của nó” thì mới không hiểu sai.

Qua ông Sáu Trí và ông Tư Cang, chúng tôi biết một chuyện khá lý thú xung quanh vấn đề này liên quan đến Phạm Xuân Ẩn.

Năm 1966, một Cụm Tình báo A26 lấy được tài liệu về kế hoạch quân sự hỗn hợp Việt – Mỹ, tài liệu dày trên 400 trang. Cơ quan Nghiên cứu của Phòng Tình báo miền, sau khi nghiên cứu, đã viết báo cáo tóm tắt nêu những vấn đề cốt lõi về đánh giá tình hình, chủ trương và kế hoạch quân sự, chính trị của địch năm 1966 cùng các nhận xét gợi ý gửi cho lãnh đạo kèm theo tài liệu nguyên bản.

Khoảng 1 tuần lễ sau, Cụm Tình báo H.63 cũng gửi về Phòng một báo cáo của Phạm Xuân Ẩn về tài liệu nói trên, ông Ẩn chưa gửi được nguyên bản tài liệu này, nhưng đã gặp viên đại tá ở Bộ Tổng Tham mưu quân đội Sài Gòn mượn tài liệu đọc tại chỗ. Viên đại tá là người tham gia soạn thảo kế hoạch, là chỗ thân quen của ông Ẩn, nên đã nói cho ông nghe tinh thần trung tâm của kế hoạch quân sự này.

Ông Ẩn đọc kỹ tài liệu, ghi lại các chi tiết và các số liệu thông tin cần thiết, về viết thành một bản báo cáo khoảng 4 trang đánh máy nêu những vấn đề cốt lõi của kế hoạch, ông Sáu Nam (cựu Chủ tịch nước Lê Đức Anh) lúc đó là Tham mưu trưởng miền đọc cả hai bản báo cáo, một của cơ quan nghiên cứu Phòng Tình báo miền và một của Phạm Xuân Ẩn. Ông Sáu Nam đánh giá bản tổng hợp của Phạm Xuân Ẩn sâu sắc hơn, nêu vấn đề rõ hơn, giúp cho công tác chỉ đạo tốt hơn.

 

Cuộc gặp gỡ xúc động giữa GS Larry Berman và những người đồng đội của Phạm Xuân Ẩn. 

Cũng theo ông Sáu Trí và ông Tư Cang, năm 1973, qua nhiều lưới điệp báo, Phòng Tình báo miền đã thu thập được nhiều tài liệu về hành động phá hoại Hiệp định Paris ngay sau khi Hiệp định ký chưa ráo mực, trong đó có tài liệu về “bình định cấp tốc” và kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ”. Các tài liệu đó đều được sao nguyên bản báo cáo lên cấp trên và gửi một bản cho ông Sáu Nam lúc đó làm Tư lệnh Quân khu 9. Còn cơ quan Tham mưu miền thì tóm tắt nội dung, thông qua điện đài phổ biến cho các quân khu, trong đó có Quân khu 9.

Sau này ông Sáu Nam có nhận xét: tài liệu của Phòng Tình báo gửi cho ông nói rõ hơn thực chất âm mưu của địch sau Hiệp định Paris, còn tin của cơ quan tham mưu nói chung là không rõ, bị chi phối bởi tình trạng “nửa hòa nửa chiến”, dễ làm người đọc hiểu sai tình hình. Do nghiên cứu kỹ tài liệu của tình báo, nên khu 9 đã giữ vững thành quả của cách mạng.

Trao đổi với chúng tôi xung quanh chi tiết này, ông Ẩn nhận xét: “Ông Lê Đức Anh là một trong những nhà chỉ huy quân sự quan tâm đặc biệt đến công tác tình báo. Bởi vậy khu 9 không những không mất một tấc đất nào mà còn mở rộng thêm vùng giải phóng”.

“Lúc đó ông có báo cáo về tình hình thi hành Hiệp định Paris lên trên không ?”.

Ông Ẩn: “Lúc ký hiệp định, tôi có báo cáo ra cứ rằng chính quyền Nguyễn Văn Thiệu sẽ không thi hành hiệp định. Trong các cuộc trao đổi với các giới chức có thẩm quyền ở Sài Gòn và Mỹ tôi biết rõ điều đó.

Ông Ẩn nói tiếp: “Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu trước sau không muốn ký hiệp định, nhưng do Mỹ ép mạnh quá nên họ phải ký. Cho nên, ký xong họ cứ lấn đất. Mỹ cũng khuyến cáo làm như vậy. Theo tinh thần hiệp định, bên nào giữ chiếm đất tới đâu thì nguyên hiện trạng ở đó, nhưng hiên trạng như thế nào thì làm gì có ranh giới, nên họ chủ trương lấn mạnh, lấn đến đâu cắm cờ giành đất tới đó. Trên chiến trường Nam Bộ, ta lo thi hành Hiệp định Paris nên bị động, để mất nhiều đất, chỉ có khu 9 là chủ động đánh, vì ông biết rõ ý đồ của địch”‘.

Nhân chuyện đó, ông Ẩn nói: “Điệp báo dù lấy được tài liệu gì đi nữa thì giá trị nhiều lắm cũng đến 50%, 50% giá trị còn lại thuộc về phân tích, đánh giá”.

“Thông tin tình báo chiến lược được thu thập từ nhiều nguồn. Ngay cả trình độ như CIA, 70-75% nguồn tin cũng dựa từ sách báo và phương tiện thông tin đại chúng, 25-30% là tin mật do điệp báo lấy. Thông tin công khai trên phương tiện thông tin đại chúng tất nhiên là không mật, nhưng khi được đưa vào báo cáo tình báo chúng lập tức biến thành thông tin mật, vì nếu lộ ra thì đối phương sẽ biết ngay được ý đồ của người sử dụng. Đối với thông tin điệp báo lấy được, tài liệu mật tuy rất có giá trị, song những ý đồ chưa thành văn bản của đối phương là có giá trị nhất. Nhưng trên hết, giá trị của những thông tin tình báo phụ thuộc vào sự phân tích, đánh giá khách quan của cơ quan có thẩm quyền của Trung ương”.

Kỳ 36: Phạm Xuân Ẩn át chủ bài tình báo

Đăng Bởi Một Thế Giới – 13:09 12-06-2015

Phạm Xuân Ẩn, Tướng tình báo chiến lược

Ở phần này của ký sự Phạm Xuân Ẩn, Tướng tình báo chiến lược chúng tôi trích đăng một chương trong cuốn sách của nhà báo Úc nổi tiếng thế giới Denis Warner viết về Phạm Xuân Ẩn.  Được coi là một trong những phóng viên chiến trường giàu kinh nghiệm nhất, đi nhiều nhất và được kính trọng nhất thế giới, Dennis Warner hiện diện, chứng kiến và viết về những xung đột nóng bỏng nhất của thế kỷ 20. Ông là bạn của Phạm Xuân Ẩn….

 

LTS: Denis Warner làm phóng viên chiến trường tại châu Á từ 1961 đến 1993, đã dành hẳn ngay chương đầu tiên trong cuốn sách Not always on horseback (Không phải lúc nào cũng rong ruổi – NXB Allen & Unwin, Úc, 1997) của mình để viết về Phạm Xuân Ẩn – An, the ace of spies (Ẩn – át chủ bài tình báo). Nhà báo Denis Warner chứng kiến Indonesia dưới thời Sukarno, đến Việt Nam và chỉ rời đây vào những ngày cuối cùng của chế độ Sài Gòn, khám phá những bí mật chiến tranh ở Lào, chứng kiến cảnh Khmer Đỏ lên cầm quyền ở Campuchia và sau đó là những năm dài viết về Hàn Quốc, Nhật Bản và Singapore. Ông là bạn của Phạm Xuân Ẩn….

 

Not always on horseback (Không phải lúc nào cũng rong ruổi – NXB Allen & Unwin, Úc, 1997) 

Nhỏ bé, khiêm nhường và với giọng nói nhỏ nhẹ như mọi khi, Phạm Xuân Ẩn ngồi trên chiếc ghế cạnh cửa sổ của phòng ngủ trong khách sạn Caravelle ở Sài Gòn. Bấy giờ là cuối năm 1993. Hình ảnh ấy cũng giống như hình ảnh trong bất cứ thời điểm nào từ khi khách sạn này được xây dựng hồi giữa thập niên 50 (hoặc thập niên 60). Phía sau Ẩn về bên trái, phía bên kia của quảng trường rộng trước cửa Nhà hát lớn trước đây, và một thời từng là Tòa Nghị viện Sài Gòn, là dòng xe Honda lũ lượt xả khói dọc theo đại lộ Tự Do (Đồng Khởi), hoặc như những người già thường gọi, rue Catinat.

“Anh có nhớ lần chúng ta gặp nhau trong sảnh của khách sạn Continental đầu năm 1975 không?” – Ẩn hỏi. “Lúc ấy anh vừa đi miền Trung Việt Nam về”.

Quá nhiều kỷ niệm. Không có khách sạn nào, không quảng truờng nào ở bất cứ thành phố nào lại có nhiều kỷ niệm đối với tôi đến thế. Trong 45 năm, tôi đã quan sát quang cảnh này và theo dõi nó xuyên suốt các đổi thay.

Chính tại quảng trường này một quả rocket đã bắn vỡ các cửa sổ của cái khách sạn mà tôi đang đứng nhìn ra. Trong kỳ giới nghiêm hồi cuộc tấn công năm 1968, từ trên tầng thượng, Sir Robert Thompson – lãnh đạo cao cấp nhất của Anh về chống du kích, Michael Charlton của BBC và tôi đã vô vọng chứng kiến một cảnh sát cầm một tờ báo đang cháy xua đuổi một thằng bé trần chuồng đang la hét khỏi bậc tam cấp của nhà hát.

Tôi sẽ không thể nào quên các cô gái trẻ đẹp, vừa cười khúc khích vừa bán các vòng hoa lài; hay thằng bé đánh giày ưa thích nhất của tôi, hay những ả gái điếm, hay những người bán tranh dạo từng cao giọng rao trên quảng trường này. Hay cái ngày tôi chạy khỏi khách sạn Caravelle trước vụ ám sát Ngô Đình Diệm vào năm 1963, vừa chạy vừa không biết liệu có đến kịp được phi trường trước khi bị cảnh sát chìm bắt hay không; hay lần ăn sáng với đu đủ, bánh croissant và cà phê với Bob Miller, một trong những phóng viên gan dạ nhất, trong khi một đại tá VNCH trong cơn tuyệt vọng đã tự sát chỉ cách chỗ chúng tôi không quá 20 m; hay đám đông khóc mếu lộn xộn trong phòng tôi ở khách sạn Continental vào ngày 25.4.1975, vài giờ trước khi tôi rời thành phố – lúc đó tôi cảm tưởng như đó là chuyến ra đi mãi mãi.

“Tôi có nhớ lần chúng ta gặp không ư?” – tôi trả lời Ẩn. “Tất nhiên là nhớ chứ”.

Trước cuộc gặp ấy, tôi đã đi dọc các tỉnh miền Trung cùng với Geoffrey Price – Đại sứ Úc. Khi viện trợ Mỹ bị cắt, lực lượng Nam Việt Nam bắt đầu thiếu đạn, nhiên liệu và cả tiền lương. Các đơn vị pháo binh vốn quen bắn 100 quả/ngày bắt đầu phải bắn với “khẩu phần” 4 quả/ngày. Trực thăng của không lực bắt đầu chỉ bay tải thương nếu được người bị thương trả tiền. Tinh thần đã sụp đổ…

Chắc không thể tin được nếu như có ai nói cho tôi trong lúc chiến tranh đang diễn ra, rằng Ẩn là điệp viên hàng đầu của Bắc Việt Nam ở Sài Gòn. Với đủ các nguồn tin dồi dào đến mức các nhà báo khác luôn ganh tị, và vì thế nên hầu như biết hết các bí mật của người Mỹ… Ẩn được đánh giá là đáng tin cậy đến nỗi tờ TIME do sợ Ẩn và gia đình gặp nguy hiểm đã tổ chức di tản Ẩn trước khi Sài Gòn sụp đổ. Ẩn nghe theo và bảo vệ vỏ bọc của mình bằng cách đồng ý cho vợ con đi nhưng mình thì ở lại vì mẹ già đau yếu. Sau đó, ngay khi có cơ hội gia đình Ẩn đã quay về Việt Nam.

Bây giờ, với cấp bậc thiếu tướng Ẩn không hề bối rối khi nói về những năm tháng làm điệp viên với trạng thái căng thẳng thần kinh thường trực trong khi các giao liên chuyển các bí mật về ban chỉ huy ở miền Bắc.

“Nếu hồi đó có ai mà nghi chút xíu rằng anh là gián điệp thì người ta đã xé anh ra từng mảnh” – tôi nói.

Ẩn gật đầu.

“Làm thế nào mà thần kinh anh có thể chịu được kia chứ?” – tôi hỏi.

“Tôi rất cẩn thận” – Ẩn trả lời. “Hầu như tôi luôn dùng giao liên”.

“Vợ anh có biết việc anh làm không?”.

“Tất nhiên là có”.

Chúng tôi đã nói chuyện hơn hai tiếng rồi. Đã đến tám giờ tối. Tôi gợi ý đi ăn tối.

“Tại sao không nhỉ?”.

Chúng tôi đi bộ băng qua quảng trường sang Givral, một hãng cà phê từng nhiều năm là nơi tụ tập của phóng viên để trao đổi tin tức trong ngày. Thời Pháp, nó được gọi là Radio Catinat, nhà máy sản xuất tin đồn.

“Có ai đó gợi ý rằng đáng lẽ phải gọi tôi là tướng Givral” – Ẩn cười và nói khi chúng tôi bước vào. Gọi như thế cũng hợp thôi.

Sau lần nói chuyện với Ẩn hồi 1975 một hoặc hai tuần, tướng Văn Tiến Dũng – người sau này chỉ huy cuộc tấn công cuối cùng của cuộc chiến, bí mật rời Hà Nội vào phía Nam. Sài Gòn biết rằng cuộc tấn công sắp đến, nhưng họ không có ai như Phạm Xuân Ẩn cài ở Hà Nội để mà báo cho Chính phủ Sài Gòn về những điều mà Chính phủ Sài Gòn đã phán đoán sai. Không phải miền Trung Việt Nam, nơi Sài Gòn phán đoán rằng cuộc tấn công sẽ nổ ra, mà Buôn Ma Thuột, một thành phố cao nguyên mơ màng với hàng cây phượng xanh tím dọc theo các phố cùng vó ngựa lọc cọc, mới chính là mục tiêu của các cú đánh chết người.

Hàng chục ngàn quân, hàng chục ngàn tấn trang bị từ miền Bắc tràn xuống qua đường mòn Hồ Chí Minh. Đến ngày 10.3.1975, tướng Dũng đã tập trung 3 sư đoàn bộ binh bên ngoài Buôn Ma Thuột, lúc đó chỉ có 1 trung đoàn VNCH trấn giữ. Trung đoàn ấy chỉ chống cự trong có hơn 1 ngày. 50 ngày sau, xe tăng quân giải phóng húc đổ và xông qua cổng dinh Độc Lập, nơi phóng viên ảnh chiến trường gạo cội người Úc Neil Davis chờ đón họ. Cuộc chiến kết thúc.

Và bây giờ, hơn 18 năm sau, tôi quay về Sài Gòn, lần đầu tiên kể từ khi chiến tranh kết thúc. Peg – vợ tôi, và Annabel – con gái tôi đi cùng với tôi, vừa thích thú vừa nghi hoặc lắng nghe Ẩn nói chuyện trong khi ăn tối. “5 năm trước thì tôi chắc không được phép gặp anh đâu” – Ẩn nói – “mọi chuyện bây giờ dễ dàng hơn nhiều”.

Việt cộng có 20 ngàn điệp viên làm việc trong hàng ngũ người Mỹ và Nam Việt Nam. Ẩn là người đáng chú ý nhất, còn tất cả các cơ quan chủ yếu của Nam Việt Nam đều bị thâm nhập. Có đến 1 phần 3 số nhân viên chính quyền VNCH là những người có cảm tình với Việt cộng. Chị dâu của chỉ huy trưởng miền Trung Việt Nam vào thời điểm VNCH chuẩn bị tấn công cắt đường mòn Hồ Chí Minh tại thành phố bị đánh bom tan hoang Sê Pôn, nằm sâu 20 dặm trên đất Lào, lại chính là một điệp viên Việt cộng. Cuộc tấn công biến thành một thảm họa…

Chúng tôi tạm biệt Ẩn và đi bộ về Caravelle, hồi tưởng lại những gì đã nghe và thấy. Tôi thấy khó hiểu được làm sao Ẩn có thể không tự phản bội mình trong bao nhiêu năm ấy, và có thể có được tình bạn sâu đậm với những người Mỹ như Shaplen (và theo như cách Ẩn nói thì tình cảm của Ẩn với Bob là thật và sâu đậm) mà không lúc nào trượt ra khỏi sự trung thành thực sự của mình.

Nhưng tôi cho rằng điều đó chắc là tính cách của tất cả các điệp viên vĩ đại. Nhưng đằng sau nó, và quan trọng hơn hết, sự hiện diện của Ẩn là một sự nhắc nhở đáng ngạc nhiên về cái vũng lầy Nam Việt Nam vào đầu thập niên 60, khi nước Mỹ và đồng minh Úc đối đầu với chàng tí hon Bắc Việt Nam – và thua cuộc…

Kỳ 37: Tình báo ta và tình báo Mỹ năm 1975

Đăng Bởi Một Thế Giới – 05:54 13-06-2015

Phạm Xuân Ẩn cùng Trưởng chi nhánh Time, Jon Larsen tại một trại Chiêu hồi – ảnh: David Burnett

Ông Tư Cang cho biết ghi nhận công lao của cơ quan tình báo quân sự Miền trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nhà nước đã tuyên dương anh hùng cho 4 đơn vị (gồm 2 cụm, 1 lưới và 1 đội giao liên tình báo) và 12 cá nhân (gồm 3 cán bộ điệp báo, 2 cán bộ cụm trưởng, 2 cán bộ trinh sát và giao liên, 4 cán bộ giao thông hợp pháp và 1 cơ sở quần chúng làm nhiệm vụ hộp thư mật). Song tổn thất cũng rất lớn.

 

Trong chống Mỹ, chủ yếu từ 1969 – 1973, Phòng Tình báo miền đã hy sinh 5 cán bộ cấp trung đoàn và tiểu đoàn, hơn 20 cán bộ, sĩ quan và trên 200 chiến sĩ; 80 người khác bị thương. Nhưng đó mới chỉ là mạng lưới tình báo chiến lược thuộc Phòng Tình báo quân sự miền, chưa tính đến mạng lưới thiên la địa võng của tình báo chiến thuật. “Tất cả các cơ quan chủ yếu của Nam Việt Nam đều bị thâm nhập”, nhận xét đó của Denis Warner quả không sai.

Với các lưới tình báo “phủ sóng” khắp các cơ quan trọng điểm về chính trị, quân sự của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, có thể nói trong kháng chiến chống Mỹ không có bất cứ sự cơ mật nào của địch mà ta không biết được, từ các ý đồ chiến lược, các kế hoạch quân sự, các chiến dịch, tình hình điều binh khiển tướng, hệ thống trang bị và sự vận hành của bộ máy chiến tranh… Đến giai đoạn cuối của chiến tranh, hoạt động tình báo của ta đã đạt được hiệu quả cao độ. Trong giai đoạn này, không chỉ có Phạm Xuân Ẩn mà nhiều lưới tình báo khác cũng hoạt động một cách đặc biệt xuất sắc.

Ông Ẩn nói một cách nôm na vị trí của tình báo như sau: “Trong một bộ chỉ huy, thường có 4 ông kề vai sát cánh, ông tư lệnh ngồi giữa, bên tay mặt là ông phụ trách hành quân, bên tay trái là ông phụ trách tình báo, sau lưng là ông phụ trách hậu cần. Trước mỗi trận đánh, ông tình báo nói trước, phân tích tình hình địch. Kế đó là ông phụ trách hành quân vạch kế hoạch tác chiến, trình lên ông chỉ huy coi. Ông chỉ huy coi kế hoạch xong quay sang hỏi ông hậu cần xem điều kiện hậu cần có bảo đảm cho kế hoạch này không. Nếu bảo đảm được thì nhiệm vụ của anh tình báo hết. Nếu không bảo đảm được thì anh tình báo phải tiếp tục cung cấp thông tin về đối phương để xây dựng phương án tác chiến vừa phù hợp với điều kiện về hậu cần mà vẫn bảo đảm khả năng thắng lợi…”. Một trận đánh, một chiến dịch hoặc một cuộc chiến tình hình đều na ná như vậy. Cho nên, vai trò của tình báo là cực kỳ quan trọng trong điều kiện lấy yếu đánh mạnh, đặc biệt là trong những thời điểm cần quyếl định dứt điểm. Trận Phước Long là một điển hình.

 

 Bản đồ trận chiến Phước Long

Frank Snepp, chuyên viên phân tích chiến lược của CIA nhận xét về trận Phước Long như sau: “Về mặt tâm lý, mất Bình Phước (thị xã Phước Long) là một đòn đau đối với chính quyền Thiệu. Chưa có một thị xã nào bị đánh chiếm kể từ ngày thị xã Quảng Trị phải đầu hàng năm 1972. Nhưng sau đó, thị xã Quảng Trị được chiếm lại. Nhưng đau nhất là chưa bao giờ Hoa Kỳ tỏ ra thờ ơ như lúc này. Đối với Thiệu cũng như đối với Bắc Việt Nam, trận Phước Long là trận thăm dò chính sách của Mỹ…”.

Lúc này quân đội chế độ Sài Gòn vẫn còn tiềm lực nhưng vì sao Nguyễn Văn Thiệu không tổ chức đánh chiếm lại Phước Long mà án binh để “thăm dò chính sách của Mỹ” ? Ông Ẩn giải thích: “Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu chờ Mỹ thực hiện lời hứa dội bom B.52. Vì khi thuyết phục Nguyễn Văn Thiệu ký Hiệp định Paris, Mỹ có hứa nếu Việt cộng vi phạm thì họ sẽ dùng B.52 đánh trả. Nhưng điều đó đã không diễn ra…”.

Và sau đó, Frank Snepp viết tiếp : “Ở Sứ quán Mỹ tại Sài Gòn, chúng tôi không hề biết Đại tướng Văn Tiến Dũng đang ở miền Nam Việt Nam. Lại cũng không biết việc ông đặt sở chỉ huy ở phía Tây Nam Ban Ma Thuột, đang chuẩn bị tiến về thị xã. Quân tiếp viện Bắc Việt Nam kéo vào vùng này không hề ai biết… Nếu đúng là cộng sản chuẩn bị mở một chiến dịch mới thì không một ai trong chúng tôi biết rõ mục tiêu chính của họ”. Chỉ riêng về hoạt động tình báo, Mỹ cũng đã có một kết cục thảm hại.

 

Xe tăng quân giải phóng tiến vào Sài Gòn 

Trong khi đó, như đã biết, bà Nguyễn Thị Ba cũng như những người giao liên khác trong hệ thống tình báo của ta đã đi lại như chong chóng để truyền đạt yêu cầu của cấp trên đến các điệp viên và mang về đầy đủ tất cả những thông tin cần thiết phục vụ yêu cầu của Bộ Tư lệnh chiến dịch. Ta “đánh rất thong dong” vì ta biết tất cả.

Kỳ 38: Chuyện một nữ giao liên thầm lặng

Đăng Bởi Một Thế Giới – 06:30 13-06-2015

Như chúng ta đã biết, để có một lưới tình báo đạt đến mức lý tưởng như Phạm Xuân Ẩn, biết bao người đã hy sinh tính mạng của mình và biết bao người đã chiến đấu kiên cường, quên mình, thầm lặng.

 

Cuộc đời của mỗi người trong số họ đều có thể viết thành một cuốn tiểu thuyết, đều có thể dựng thành một bộ phim. Bà Nguyễn Thị Ánh là một trong những người đó.

 

Bà Hai Ánh (trái) với đại úy tình báo, Anh hùng lực lượng vũ trang Nguyễn Thị Thanh Xuân (Hai Kim) 

Khi chúng tôi gặp bà đã 59 tuổi, nhưng trong bà vẫn mang bầu nhiệt huyết của cô gái 17 tuổi lần đầu tiên tham gia cách mạng.

“Hồi đó gia đình tôi rất nghèo, quê tôi bị địch cày xới, tôi có người cậu tham gia kháng chiến, nên tôi rất thương những người cách mạng. Năm 15 tuổi tôi lên thành phố học may với bà chị ở Chợ Lớn, đến 17 tuổi mới về quê ở Phú Hòa Đông phụ mẹ tráng bánh. Anh Tư Lâm (là cán bộ giao thông cụm, sau này bị địch bắt và hy sinh tại nhà tù Phú Quốc năm 1969) là người đầu tiên hướng dẫn tôi vào nghề giao thông viên tình báo. Năm 1961 ảnh đưa tôi lên căn cứ gặp anh Mười Nho và anh Tư Cang nhận nhiệm vụ, lần đó tôi đi với chị Ba anh hùng. Phấn khởi lắm. Mấy ảnh dặn: Phải làm mọi cách để không bị lộ, không bị bắt, để khỏi ảnh hưởng đến cơ sở mật”.

Bà Ánh đã làm giao liên cho Cụm tình báo H.63 từ đó cho tới ngày giải phóng. Để tạo thế hợp pháp, cô gái trẻ Nguyễn Thị Ánh đã đổi từ nghề tráng bánh sang bán hàng xén, cứ 3 – 4 ngày đi một chuyến mang bánh tráng, măng… xuống Sài Gòn, rồi mang bắp cải, trứng vịt, cá khô, đồ tạp hóa từ Sài Gòn về Phú Hòa Đông. Nhiệm vụ của bà là đóng vai người buôn bán để chuyển tài liệu từ bà Ba về Cụm, mỗi tuần khoảng 2, 3 lần.

“Hẹn gặp bà Ba phải báo trước địa điểm, thường là ở chợ hay trên một con đường nào đó và phải đúng giờ. Tôi thường nhận từ bà Ba tài liệu gói trong nem cũng có, bằng giấy xi măng dùng để gói đồ cũng có, cũng có thứ cuốn nhỏ lại bỏ trong kẹo, trong thuốc bắc, trong bánh mì… Tài liệu đem về, tôi thường ra rừng quơ củi hoặc hái rau gặp các anh trong Cụm để giao, khi có lính bố ráp găng quá thì để tài liệu ở các hộp thư chết trong rừng theo quy ước để mấy ảnh đến lấy”, bà Ánh nhớ lại.

“Bà buôn bán có đủ sống không?”. “Khó khăn lắm, nhiều lúc ế không bán được nhưng phải ráng chịu. Khi mới nhận nhiệm vụ thì chưa chồng nhưng làm riết một hồi thì lấy chồng và có 4 mặt con. Sanh đứa con gái đầu xong, được tháng rưỡi lại đi công tác, hồi đó nó không đủ sữa bú.

Tôi tâm sự với chị Ba: Con em không đủ sữa bú nên em phải cho nó bú sữa bò. Tôi chỉ nói vậy thôi, nhưng không biết chị Ba đã nói gì với anh Hai Trung mà mỗi tuần ảnh đều gửi cho tôi 3 lon sữa, tôi vẫn nhớ rõ là sữa Con Chim. Tôi kể chuyện đó với Cụm trưởng Tư Cang, anh Tư Cang bảo tôi: Đừng lấy sữa của ảnh, có khó gì thì anh em trong Cụm hỗ trợ cho. Tôi nói lại với chị Ba. Lần sau chị Ba nói: Ông khách (tức Hai Trung) bảo giấu đi, đừng nói với mấy ổng là nhận sữa. Tôi nói: Cũng được. “Hồi đó bàcó biết ông Hai Trung không?”. “Làm sao mà biết được, chỉ nghe chị Ba nói lại thôi hà, mà chỉ biết là ông khách chứ không biết tên. Trước giải phóng tôi cũng không hề gặp ảnh, sau giải phóng mới gặp”. Bà Ánh nói tiếp: “Ổng cho sữa hoài à. Cả 4 đứa con tôi đều dùng sữa anh Hai Trung cho. Lúc mới hòa bình tôi định ghé thăm để cảm ơn ảnh nhưng đâu có dám, lúc đó vẫn còn giữ bí mật cho ảnh. Lúc thằng con trai tôi đám cưới tôi mới gặp được ảnh. Anh Hai Trung là người có đức lắm. Chính cái đức này cũng góp phần giúp ảnh không bị lộ trong suốt bao nhiêu năm hoạt động. Tôi nghĩ không ai có thể hại ảnh được”.

 

 Phạm Xuân Ẩn tới tiệm Givral năm 1973- Nguồn: Tư liệu cá nhân của Phạm Xuân Ẩn 

Bà Ánh được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1963. Sau giải phóng bà làm nhiệm vụ quản lý các nữ sĩ quan chế độ cũ học tập cải tạo. Năm 1977 bà chuyển ngành về Sở Thương binh và Xã hội TP. Hồ Chí Minh, ban đầu làm công tác chính sách, sau đó đi học, rồi về làm Giám đốc đơn vị “đời sống” của Sở, được 2 năm bà xin thôi “vì không rành làm kinh tế”, chuyển sang làm Giám đốc Trung tâm dưỡng lão Thị Nghè (dành cho cha mẹ liệt sĩ) cho đến khi nghỉ hưu năm 1999. Bà được thưởng Huân chương Chiến công và nhiều huân, huy chương khác.

Người nữ giao liên thầm lặng này có rất nhiều “mưu lược” nên dù trải qua nhiều phen gay cấn nhưng đều thoát hiểm…

Kỳ 39: Chuyện “gai” người của một nữ giao liên thầm lặng

Đăng Bởi Một Thế Giới – 07:37 14-06-2015

Bà Nguyễn Thị Ánh nói, hồi đó gia đình bà không ai biết bà hoạt động cách mạng cả. Khi bà lấy chồng, ban đầu chồng bà cũng không biết. “Anh Tư Cang bảo: Phải cho nó biết. Và chính anh Tư Cang nói cho chồng tôi biết chứ không phải tôi”.

Chồng bà cũng hoạt động cách mạng, là cán bộ của Thành Đoàn – liệt sĩ Trần Văn Ơn, hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ. Bà bị địch bắt hai lần, chỉ vì “có chồng theo Việt cộng”, chúng hoàn toàn không có chứng cứ để nghi ngờ bản thân bà là “Việt cộng”, nên một thời gian ngắn chúng phải thả bà ra.

 

Nếu bà Nguyễn Thị Ba giữ được sự an toàn đến mức hoàn hảo thì bà Nguyễn Thị Ánh nhiều lúc rơi vào tình huống… đứng tim.

Bà kể: “Một lần, các anh trong Cụm giao cho tôi mang tài liệu khẩn cấp xuống Sài Gòn. Tôi kêu xe ôm đi, vì gấp quá, hàng hóa mang theo chỉ có mấy xấp bánh tráng nên hơi khó giấu tài liệu. Tài liệu được các anh vo thành viên bọc trong túi ni lông nhỏ. Tôi mở hộp dầu Nhị Thiên Đường, đem tài liệu quan trọng nhất kẹp vào cái toa nhỏ xíu rồi nhét lại vô hộp, còn hai cái nữa tôi giấu trong ruột ổ bánh mì ăn dở. Tôi xuống đến Hóc Môn, thì bị chặn lại, hôm đó địch xét dữ lắm. Thấy ổ bánh mì ăn dở tụi nó để sang một bên. Bánh tráng thì nó giũ ra xét từng cái một. Đến hộp dầu Nhị Thiên Đường, nó móc luôn cái toa ra và đọc kỹ, rất may là viên tài liệu lúc nó lôi ra đã rớt ngay xuống đất. Nhanh như chớp, tôi dùng chân đạp lên. Thấy vậy thằng lính hỏi: “Cái gì vậy?. Tôi cúi xuống giả xoa chân, nói bị kiến cắn và cũng nhanh như chớp cho ngay viên tài liệu vào miệng nuốt chửng. Lúc bọn chúng sờ đến hộp dầu tôi đã sợ đến đứng tim nhưng sắc mặt vẫn không hề biến đổi, nên tụi nó không nghi. Sau đó chúng cho tôi đi. Khi ngồi trên xe tôi vừa run vừa nghĩ lung lắm. Làm sao lấy tài liệu ra đây. Chợt nhớ lại chuyện ở quê ông anh họ tôi có lần cho con uống nhầm thuốc, ảnh đã nhanh tay cho đứa bé uống thật nhiều nước chanh cho đầy bụng rồi móc họng ói thuốc ra. Theo cách ấy, đến ngã tư Bảy Hiền tôi uống một lúc hai trái dừa và đến cột đèn vắng người móc họng ói ra. Lấy được tài liệu trong bụng, tôi mừng quá, vội lấy giấy gói lại đem ngay đến chỗ hẹn với chị Ba ở chợ Sài Gòn. Tôi nói: Run quá chị Ba ơi! Nhưng thật lạ là lúc đối diện với tụi nó khám xét tôi rất không hề run sợ. Bây giờ nghĩ lại thấy cũng hơi ớn. Nếu bị chúng bắt thì không biết làm thế nào. Nhà tù của Mỹ ngụy là trường thi của những người cộng sản, rớt hay đậu, tức là khai hay không khai”.

Bà Ánh kể tiếp: “Một lần khác, lúc ra nhận tài liệu từ chị Ba mang về Cụm, trên đường đi phải vượt qua một đám ruộng. Khi bước xuống thì không thấy gì khả nghi, nhưng mới bước hơn chục bước chân thì thấy tụi lính lóp ngóp ở dưới. Đã lỡ bước xuống rồi nên không thể quay lại, quay lại tụi nó nghi liền. Nhưng không biết làm thế nào. Giữa lúc nguy khốn, có một bà già gánh rạ cùng đứa con nít ngồi nghỉ gần đó kêu: Cô ơi lại đây! Tôi lại, bà nói nhỏ: Lại đi với tôi. Có gì cần giấu thì đưa ngay đây. Tụi nó rình rập gì dưới đó từ lâu rồi. Tôi không hề quen biết bà nhưng tôi cũng đưa giỏ xách có tài liệu cho bà giấu trong gánh rạ và cùng bà đi khỏi. Không có bác đó chắc tôi đã tiêu rồi. Hồi đó người dân tinh mắt lắm, thấy mình gặp nguy là họ nhận ra và tìm cách bảo vệ ngay. Tôi nghĩ cách mạng thành công một phần cũng nhờ công lớn của những người dân bình thường như bác ấy. Đến giờ tôi vẫn ân hận là chưa kịp hỏi tên, không biết bác ấy và em nhỏ bây giờ ở đâu mà tìm”.

Kỳ 40: Đấu súng với lính Nam Hàn trước tết Mậu Thân

Đăng Bởi Một Thế Giới – 14:20 15-06-2015

Đó là một trong rất nhiều tình tiết vừa hào hùng hoành tráng vừa gay cấn phía sau Phạm Xuân Ẩn. Biết những tình tiết đó mới thấy ông Ẩn tồn tại một cách an toàn trong một đường dây mà giữa sự an toàn và hiểm nguy thường cách nhau trong gang tấc…

 

Việc một Cụm trưởng mà vào thành để làm việc trực tiếp với điệp viên là chuyện đại kỵ trong hoạt động tình báo. Song vì hồi Mậu Thân ta có ý định “giải phóng miền Nam luôn”, nên cấp trên đã cử nhiều cán bộ “thân chinh” vào thành. Nhưng ông Tư Cang không những vào thành làm việc với Phạm Xuân Ẩn mà hai người còn “nghênh ngang” đàm luận với các tướng tá Mỹ cũng như quân đội Sài Gòn. Và không chỉ có vậy, ông Tư Cang còn “liều mạng” mang súng vào thành nữa. Chính bà Nguyễn Thị Ánh là người đưa súng vào cho ông Tư Cang. Qua việc này chúng ta thấy thêm sự thiện nghệ của người nữ giao liên thầm lặng này.

Ông Tư Cang kể: “Nhớ lại mấy năm còn ngoài Bắc, đi dự thi bắn súng ngắn với các kiện tướng Trần Minh, Trần Oanh, Hồ Xuân Kỷ, tôi thấy các anh ấy mang đến trường bắn mỗi người một cái hộp bằng gỗ có quai xách rất đẹp. Đến bàn dành cho xạ thủ, anh nhẹ nhàng đặt hộp lên, thò tay vào túi lấy chìa ra tra vào ổ khóa vặn “tách”. Bên trong, khẩu súng ngắn được nằm trong một khung vừa vặn được bọc nhung cẩn thận. Súng Hai Ánh (bà Nguyễn Thị Ánh) mang vào cho tôi cũng vậy, chỉ khác là không có hộp gỗ, không có bọc nhung mà hai khẩu súng và 27 viên đạn đặt trong một chồng bánh tráng”.

Bà Nguyễn Thị Ánh nhớ lại: “Trước Mậu Thân, tôi đưa anh Tư Cang vào Sài Gòn. Tôi, ảnh và hai đứa con nhỏ của tôi giả làm một gia đình, đi trót lọt. Nhưng căng thẳng thần kinh nhất là mang súng vào cho ảnh. Lúc đó vào khoảng 27 Tết, anh Năm Hải (cán bộ Cụm, đã hy sinh) giao cho tôi 4 cây súng ngắn K54 nhưng tôi chỉ mang đi được 2 cây với 27 viên đạn. Mang đi là vô cùng khó khăn, phải tính cách. Tôi đem bánh tráng sắp thành chồng, rồi rạch bánh theo hình cây súng, đạn cũng làm như vậy, xong đặt súng và đạn vào giữa. Tôi nhớ mãi chồng bánh tráng đó, nó nặng lắm. Vào Sài Gòn gặp anh Tư Cang trong tiệm nước, giao chồng bánh tráng cho ảnh rồi mà vẫn còn lo vì thấy ảnh xách lệch cả tay. Giao xong tôi về, hẹn ảnh mồng hai giao tiếp 2 cây nữa. Sáng mồng 2 tôi cũng giấu 2 cây súng và 30 viên đạn trong chồng bánh tráng theo cách tương tự và mang đi.

Xuống đến cầu Xáng thì gặp tụi lính chặn lại, đuổi về. Chúng nó bảo: Ở Sài Gòn đang có chiến tranh, chánh phủ ra lệnh giới nghiêm không cho ai ra vô thành phố nữa. Tôi vội quay về. Không biết sao lúc đó nó không xét, mà bánh tráng thì dễ bị xét lắm. Thật hú hồn! Nó mà chặn lại rồi xét thì chết chắc. Đem bánh tráng – súng về, tôi đào lỗ chôn ngoài ruộng. Chiều đó lại một phen lên ruột. Trực thăng Mỹ đến quần và thả lính xuống, mà lính nó dẫm lên ruộng, đạp ngay vào chỗ chôn súng. Tôi ngồi trong nhà vừa ôm con vừa run”. Còn ông Tư Cang ở trong thành, giữa tổng tấn công Mậu Thân, từ nhà bà Tám Thảo nhìn sang bên đường thấy đám lính Mỹ và Nam Hàn tấn công anh em ta, dù ông vào thành để làm nhiệm vụ tình báo chứ không phải để đánh giặc, nhưng thấy “hai thằng chỉ huy đáng ghét”, lại được sự “đề xuất” của bà Tám Thảo, nên đã “chi viện cho đồng đội” bằng cách dùng hai khẩu súng, trổ tài thiện xạ, “lẩy hai phát hạ gục hai thằng chỉ huy”. Như dự đoán, bọn lính đã ập đến lục soát, may nhờ sự mưu trí của hai nguời, nhất là của bà Tám Thảo, nên thoát nạn, nếu không thì không những ông Tư Cang mà cả gia đình bà Tám Thảo không tránh khỏi đại họa. Chuyện này do ông Tư Cang kể lại. Ông còn nói: “Việc chi viện cho đồng đội, lúc đó tôi không dám báo cáo lên trên”. Tuy hơi “tài tử” trong hoạt động tình báo nhưng ông Tư Cang rất xứng danh là một bậc anh hùng.

Đó là một trong rất nhiều tình tiết vừa hào hùng hoành tráng vừa gay cấn phía sauPhạm Xuân Ẩn. Biết những tình tiết đó mới thấy ông Ẩn tồn tại một cách an toàn trong một đường dây mà giữa sự an toàn và hiểm nguy thường cách nhau trong gang tấc…

Kỳ 40: Đấu súng với lính Nam Hàn trước tết Mậu Thân

Đăng Bởi Một Thế Giới – 14:20 15-06-2015

Đó là một trong rất nhiều tình tiết vừa hào hùng hoành tráng vừa gay cấn phía sau Phạm Xuân Ẩn. Biết những tình tiết đó mới thấy ông Ẩn tồn tại một cách an toàn trong một đường dây mà giữa sự an toàn và hiểm nguy thường cách nhau trong gang tấc…

 

Việc một Cụm trưởng mà vào thành để làm việc trực tiếp với điệp viên là chuyện đại kỵ trong hoạt động tình báo. Song vì hồi Mậu Thân ta có ý định “giải phóng miền Nam luôn”, nên cấp trên đã cử nhiều cán bộ “thân chinh” vào thành. Nhưng ông Tư Cang không những vào thành làm việc với Phạm Xuân Ẩn mà hai người còn “nghênh ngang” đàm luận với các tướng tá Mỹ cũng như quân đội Sài Gòn. Và không chỉ có vậy, ông Tư Cang còn “liều mạng” mang súng vào thành nữa. Chính bà Nguyễn Thị Ánh là người đưa súng vào cho ông Tư Cang. Qua việc này chúng ta thấy thêm sự thiện nghệ của người nữ giao liên thầm lặng này.

Ông Tư Cang kể: “Nhớ lại mấy năm còn ngoài Bắc, đi dự thi bắn súng ngắn với các kiện tướng Trần Minh, Trần Oanh, Hồ Xuân Kỷ, tôi thấy các anh ấy mang đến trường bắn mỗi người một cái hộp bằng gỗ có quai xách rất đẹp. Đến bàn dành cho xạ thủ, anh nhẹ nhàng đặt hộp lên, thò tay vào túi lấy chìa ra tra vào ổ khóa vặn “tách”. Bên trong, khẩu súng ngắn được nằm trong một khung vừa vặn được bọc nhung cẩn thận. Súng Hai Ánh (bà Nguyễn Thị Ánh) mang vào cho tôi cũng vậy, chỉ khác là không có hộp gỗ, không có bọc nhung mà hai khẩu súng và 27 viên đạn đặt trong một chồng bánh tráng”.

Bà Nguyễn Thị Ánh nhớ lại: “Trước Mậu Thân, tôi đưa anh Tư Cang vào Sài Gòn. Tôi, ảnh và hai đứa con nhỏ của tôi giả làm một gia đình, đi trót lọt. Nhưng căng thẳng thần kinh nhất là mang súng vào cho ảnh. Lúc đó vào khoảng 27 Tết, anh Năm Hải (cán bộ Cụm, đã hy sinh) giao cho tôi 4 cây súng ngắn K54 nhưng tôi chỉ mang đi được 2 cây với 27 viên đạn. Mang đi là vô cùng khó khăn, phải tính cách. Tôi đem bánh tráng sắp thành chồng, rồi rạch bánh theo hình cây súng, đạn cũng làm như vậy, xong đặt súng và đạn vào giữa. Tôi nhớ mãi chồng bánh tráng đó, nó nặng lắm. Vào Sài Gòn gặp anh Tư Cang trong tiệm nước, giao chồng bánh tráng cho ảnh rồi mà vẫn còn lo vì thấy ảnh xách lệch cả tay. Giao xong tôi về, hẹn ảnh mồng hai giao tiếp 2 cây nữa. Sáng mồng 2 tôi cũng giấu 2 cây súng và 30 viên đạn trong chồng bánh tráng theo cách tương tự và mang đi.

Xuống đến cầu Xáng thì gặp tụi lính chặn lại, đuổi về. Chúng nó bảo: Ở Sài Gòn đang có chiến tranh, chánh phủ ra lệnh giới nghiêm không cho ai ra vô thành phố nữa. Tôi vội quay về. Không biết sao lúc đó nó không xét, mà bánh tráng thì dễ bị xét lắm. Thật hú hồn! Nó mà chặn lại rồi xét thì chết chắc. Đem bánh tráng – súng về, tôi đào lỗ chôn ngoài ruộng. Chiều đó lại một phen lên ruột. Trực thăng Mỹ đến quần và thả lính xuống, mà lính nó dẫm lên ruộng, đạp ngay vào chỗ chôn súng. Tôi ngồi trong nhà vừa ôm con vừa run”. Còn ông Tư Cang ở trong thành, giữa tổng tấn công Mậu Thân, từ nhà bà Tám Thảo nhìn sang bên đường thấy đám lính Mỹ và Nam Hàn tấn công anh em ta, dù ông vào thành để làm nhiệm vụ tình báo chứ không phải để đánh giặc, nhưng thấy “hai thằng chỉ huy đáng ghét”, lại được sự “đề xuất” của bà Tám Thảo, nên đã “chi viện cho đồng đội” bằng cách dùng hai khẩu súng, trổ tài thiện xạ, “lẩy hai phát hạ gục hai thằng chỉ huy”. Như dự đoán, bọn lính đã ập đến lục soát, may nhờ sự mưu trí của hai nguời, nhất là của bà Tám Thảo, nên thoát nạn, nếu không thì không những ông Tư Cang mà cả gia đình bà Tám Thảo không tránh khỏi đại họa. Chuyện này do ông Tư Cang kể lại. Ông còn nói: “Việc chi viện cho đồng đội, lúc đó tôi không dám báo cáo lên trên”. Tuy hơi “tài tử” trong hoạt động tình báo nhưng ông Tư Cang rất xứng danh là một bậc anh hùng.

Đó là một trong rất nhiều tình tiết vừa hào hùng hoành tráng vừa gay cấn phía sauPhạm Xuân Ẩn. Biết những tình tiết đó mới thấy ông Ẩn tồn tại một cách an toàn trong một đường dây mà giữa sự an toàn và hiểm nguy thường cách nhau trong gang tấc…

Kỳ 41: Phạm Xuân Ẩn: Tôi chỉ biết làm báo theo kiểu Mỹ, viết báo theo cách tôi huấn luyện chắc… bị kỷ luật!

Đăng Bởi Một Thế Giới – 05:51 16-06-2015

Hai vợ chồng ông Phạm Xuân Ẩn (ngồi giữa), bên cạnh là ông Mai Chí Thọ, phía bên trái là hai chị em bà Tám Thảo. (Ảnh do bà Thảo cung cấp).

Nhiều nhà báo nước ngoài trở lại Việt Nam đã “ra sức” tìm hiểu về Phạm Xuân Ẩn.

 

Peter Ross Range, sếp cũ của ông Ẩn ở Báo TIME còn cố thuyết phục ông viết hồi ký. Ông nói chuyện nọ chuyện kia với họ một cách tự nhiên, không hề giữ ý giữ tứ, nhưng đó chỉ là câu chuyện thân tình của những người bạn cũ. Ông từ chối việc viết hồi ký. Ông bảo “đồ” của ông không viết ra được, vì có những bí mật liên quan đến nhiều người. Những người đó dù thuộc hàng ngũ của “đối phương”, nhưng theo ông, chiến tranh đã kết thúc, dù họ ở đâu cũng cần được sống yên ổn, dù một số đã chết nhưng vẫn còn con cái họ.

Cần biết rằng, ông Ẩn đã lấy được tất cả những tài liệu cơ mật của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhưng ngoài thời gian ngắn làm ở Sở Nghiên cứu chính trị của Trần Kim Tuyến, ông không phải là quan chức của các cơ quan nắm giữ các tài liệu đó, nên ông không thể “ăn cắp” được các thứ tài liệu ấy mà dứt khoát phải có người “tự nguyện” đưa cho ông.

Đưa tài liệu cho ông, tất nhiên họ không hề biết ông là tình báo cộng sản mà do ông là chỗ thân quen tin cậy của họ, là người họ cần tranh thủ, vì ông là “người của Mỹ” và rất có thế lực. Song những nguời đưa tài liệu cho nhà báo Phạm Xuân Ẩn, nếu bị phát hiện, chắc chắn sẽ bị đưa ra tòa án binh. Cho nên để đảm bảo an toàn, trong nhiều trường hợp, họ phải cho quân cảnh “áp tải” ông mang tài liệu về nhà, rồi hôm sau chính người đó đến đón ông đi ăn sáng để ông giao lại tài liệu.

Còn bây giờ, nếu người nào bị phát hiện đưa tài liệu cho ông Ẩn, thì ở phương trời nào đó rất có thể họ và gia đình họ sẽ bị gây khó dễ, trừ phi họ đang sống ở Việt Nam. Vì lý do đó mà nhiều bí mật xung quanh Phạm Xuân Ẩn là những bí mật vĩnh viễn. Nhưng ngoài những “bí mật vĩnh viễn” ấy, vẫn còn nhiều chuyện không “hại” đến ai ông vẫn né tránh. Đó là những chuyện liên quan đến công lao, thành tích của ông. Cho nên khi viết về ông chúng tôi phải đi tìm nhiều nguồn, gặp rất nhiều người, đến nỗi thỉnh thoảng ông phải kinh ngạc: “Chuyện đó do ai nói?”. Thì chúng tôi phải làm cái việc của một ký giả như hồi xưa ông làm đó thôi. Nhưng dù từ nguồn nào, từ người nào thì cho đến giờ này phần “công khai” ở ông cũng rất bé so với tảng băng ngầm những điều bí mật.

Sau giải phóng, rất ít người biết Phạm Xuân Ẩn là nhà tình báo chiến lược. Lãnh đạo tỉnh Đồng Nai biết địa phương mình có Nguyễn Văn Trung được phong anh hùng năm 1976 (ông Ẩn quê Biên Hòa) nhưng bao nhiêu năm vẫn không tìm ra người anh hùng ấy, cho đến gần đây khi đọc báo mới “phát hiện” ra ông.

Ông Ẩn kể, nhà báo Thép Mới, Phó tổng biên tập Báo Nhân Dân hồi đó có mời ông “bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí” cho các phóng viên Báo Nhân Dân, ông bảo ông không làm được chuyện đó. Ông Thép Mới không tin, nghĩ rằng ông khiêm tốn, nên nhờ ông Mười Hương nói giúp. Ông Mười Hương kêu ông đến thuyết phục. Ông nói với ông Mười Hương và ông Thép Mới, vừa thành thật vừa hài hước: “Tôi chỉ biết làm báo theo kiểu Mỹ, còn làm báo cách mạng thì tôi có biết gì đâu. Ai mà viết báo theo cách huấn luyện của tôi thì người ấy chắc bị… kỷ luật”. Hai ông nghe vậy đành chịu thua.

Ông Mười Nho có lần nói với chúng tôi, vẻ tiếc nuối: “Sau giải phóng, tôi có đề nghị Hai Trung làm Giám đốc Trường Tình báo, tất nhiên là ý kiến riêng của tôi. Trình độ và tầm chiến lược của Hai Trung quý lắm…”. Tôi hỏi ông Ẩn chuyện này. Ông Ẩn cười: “Tôi làm sao làm chuyện đó được. Giải phóng xong, ngôn ngữ của cách mạng tôi cũng không rành thì làm sao làm quản lý. Lúc đó ngay cả từ “quá độ” tôi cũng không hiểu, phải tra qua tiếng Anh”. Biết “khiếm khuyết” của mình, nên ông không bao giờ nhận lời đi nói chuyện chỗ này chỗ khác, vì “sợ người ta cười”.

Có lẽ khi gặp bạn bè đồng nghiệp cũ ngày nào, ông vẫn vui vẻ “như không”, nên ở phương Tây người ta đoán già đoán non nhiều chuyện xung quanh ông. Có người cho rằng những năm sau giải phóng Phạm Xuân Ẩn phải vào một “trại đặc biệt gần Hà Nội dành cho những đồng chí “bị nhiễm độc” vì đã từng quá gần gũi với người Mỹ”. Đúng là ông có đi học như bất cứ sĩ quan nào của quân giải phóng. Và cái “trại đặc biệt” đó chính là Học viện Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, đúng là gần Hà Nội, chính xác hơn là ở Hà Đông, dành cho sĩ quan trung và cao cấp. Học trường này, ngoài việc trang bị kiến thức chính trị và trình độ chỉ huy, nhưng bẩm sinh là một người hài hước, ông Ẩn còn tranh thủ “thu hoạch” thêm được cả một kho chuyện tiếu lâm do các sĩ quan gốc Bắc truyền thụ. “Chuyện cười của mấy ổng độc đáo vô cùng”, ông Ẩn nói, giọng vẫn còn rất đắc ý.

Kỳ 42: Tướng Phạm Xuân Ẩn đánh giá thế nào về CIA?

Đăng Bởi Một Thế Giới – 06:42 17-06-2015

Nói về chuyện nước Mỹ bị khủng bố, Phạm Xuân Ẩn nhận xét ngay những khiếm khuyết của FBI, của CIA, của nền chính trị Mỹ. Những khiếm khuyết không phải của mấy chục năm trước mà của bây giờ. Khi đối phó với nạn khủng bố, khi tiến hành chiến tranh tại Afghanistan, chiến tranh chống Iraq…

Chuyện cũ thì ông nhớ rất kỹ, nhớ từng tên người, thời điểm, diễn biến, các mối liên hệ và cả những con số thống kê. Còn chuyện mới, nhiều thứ ông không còn quan tâm, nhưng ông vẫn dõi theo những dòng thời sự chính.

“Nước Mỹ có nhiều cơ quan tình báo, mỗi cơ quan chịu trách nhiệm về mỗi lĩnh vực khác nhau, nhưng CIA có quyền tập trung tất cả các nguồn tin để phân tích, xử lý và cung cấp cho những cơ quan có thẩm quyền. Quyền của CIA rất lớn”. Vị tướng tình báo chiến lược của “Việt cộng”, người đã từng dùng đầu óc chứ không được trang bị một phương tiện kỹ thuật nào, đã chiến thắng một cách ngoạn mục các phương tiện và công nghệ tối tân của CIA, nay hình như vẫn đang nghiên cứu, theo dõi, cập nhật những thông tin về CIA. Ông chưa bao giờ xem thường cơ quan tình báo mạnh nhất thế giới này.

Ông không nói ra, nhưng qua những câu chuyện tản mác, tôi hiểu rằng ông đang suy nghĩ rất nhiều về vấn đề hiện đại hóa ngành tình báo Việt Nam, không chỉ riêng tình báo quốc phòng mà cả đối với hệ thống tình báo thống nhất của quốc gia để phục vụ một cách hữu ích cho cấp lãnh đạo tối cao của đất nước xây dựng chiến lược, sách lược và các giải pháp phát triển trong bối cảnh của quan hệ đa phương của quá trình hội nhập quốc tế.

Ông lưu ý việc Trung Quốc gia nhập WTO, hàng hóa của họ tràn ngập khắp thế giới. Việt Nam không tính toán thì khó mà cạnh tranh. Rồi các nước ASEAN, vừa hợp tác cùng phát triển, vừa cạnh tranh để bảo vệ lợi ích của mình và họ đều có tình báo kinh tế… ông lại nói chuyện tình báo: “Sách dạy về tình báo của ta còn ít lắm. Phải có hẳn một thư viện để cho lớp trẻ học tập. Loại sách này ở nước ngoài họ bán công khai, nhưng mua phải cho khéo. Tốt nhất nên mua bằng tiền mặt, chứ mua bằng thẻ tín dụng thì khi cần người ta có thể truy ra người mua”, ông nói với chúng tôi, gần như là nhắn nhủ: “Thanh niên cần phải học thật nhiều mới có thể theo kịp quá trình toàn cầu hóa. Không học không biết được đâu…”

 

Thiếu tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn. Ảnh chụp năm 1990. 

“Không chỉ riêng ngành tình báo mà tất cả các ngành khác cũng vậy. Từ đây cho đến năm 2004-2005, phải vô WTO rồi, không theo kịp trình độ của người ta, không cạnh tranh được thì bị tụt hậu”.

Bàn đến việc chống tội phạm, ông không theo dõi nhiều những chuyện thời sự, nhưng ông quan tâm đến vấn đề rửa tiền, ông bảo khái niệm này đuợc dùng ở Mỹ từ năm 1972, khi Nixon chuẩn bị ứng cử tổng thống lần thứ hai. Ông đề nghị chúng tôi mua sách để đọc cho biết trên thế giới tội phạm hoạt động như thế nào và cách chống ra sao. Ông vừa nói vừa vào giá sách lấy cuốn Tội ác có tổ chức — Đảng Mafia mới, do ông Trần Ngọc Hiền dịch, đưa chúng tôi muợn, bảo về photocopy một bản rồi trả lại cho ông.

Sức khỏe của ông Ẩn lúc này đã yếu lắm. Ông khó thở và ho liên tục nhưng ông vẫn hút thuốc lá quá nhiều. Gần đây chúng tôi mới biết rằng mỗi khi tiếp chúng tôi, trước đó ông đã phải uống thuốc trợ lực. Song ông vẫn rất hài hước. Ông bảo lâu lâu ông lại ra chỗ Đồng Khởi, nơi ngày trước làm báo ông thường hay ngồi uống cà phê đàm đạo với bạn bè. Những người xung quanh vẫn còn nhớ đến ông. Họ kể đủ thứ chuyện thời sự. Chẳng hạn chuyện về mấy anh chàng bán trái cây, có người trước còn lam lũ, sau mấy bữa “làm bạn” với các cô khách Tây, đã thấy bảnh bao ngồi vắt chân trên chiếc xe máy mới phì phèo thuốc lá…

Ông nói vui: “Những chuyện đó có thể viết thành phóng sự” …

Nhà tình báo chiến lược của “ Việt cộng” Phạm Xuân Ẩn không bao giờ xem thường tình báo Mỹ. Nhưng sau đây là đánh giá của Frank Stepp, một chuyên viên phân tích chiến lược của CIA, về hoạt động tình báo Mỹ ở Việt Nam trong những năm chiến tranh: “Đầu năm 1965, chi nhánh CIA ở Việt Nam có hơn 600 người thư ký, phân tích tin tức, điều khiển gián điệp, thám báo. Trừ cơ quan ở Virginia, trên thế giới không có chi nhánh CIA nào có đông nhân viên như thế… CIA là cơ quan có tổ chức, giàu có nhất trong các cơ quan dân sự của sứ quán…

Colby không ngừng nhắc lại, mục tiêu của chương trình Phượng Hoàng là bắt sống cán bộ Việt cộng, hỏi cung, tiếp đó dùng họ làm gián điệp. Nhưng chương trình ấy quá phức tạp đối với người “đồng minh” Nam Việt Nam. Đối với những kẻ quan liêu, đó là vấn đề định nghĩa. Không ai, dù là Nam Việt Nam hay Mỹ, có thể nói rằng mình không thể nhận ra người này người kia là cán bộ Việt cộng. Đó có phải là một xã trưởng dành nửa thì giờ để phục vụ người Bắc Việt Nam không? Hay từ Việt cộng chỉ dùng để ám chỉ những người cộng sản thật sự, những đảng viên? Sự thiếu chính xác đó dẫn nhân viên Phượng Hoàng đến chỗ làm việc tùy tiện, bắt bớ lung tung bất cứ người nào có vẻ nghi ngờ… Trước khi báo chí tố cáo sự lạm dụng của chương trình Phượng Hoàng, CIA vội tìm cách che giấu.

Từ năm 1968 đến 1972, ông (T. Shackley – Giám đốc chi nhánh CIA ở Sài Gòn) thúc giục nhân viên “tuyển lựa, tuyển lựa, tuyển lựa”, nghĩa là lôi kéo, dọa nạt, mua chuộc bất cứ ai có thể trở thành người giúp việc. Khi ông hết nhiệm kỳ, danh sách tình báo của CIA dài một cách kinh khủng. Nhưng chỉ một thời gian sau đó, năm 1974, chúng tôi mới thấy rõ sự tai hại do sự sốt sắng của Shacktey đem lại. Hơn một trăm “nhân viên Việt cộng” được tuyển lựa chỉ là những nhà buôn Việt Nam láu lỉnh, chẳng biết tí gì về âm mưu của cộng sản. Họ chỉ thu thập những tin tức đăng tải trên báo chí, hoặc những lời đồn đại rồi tập hợp lại một cách thông minh, đưa cho chúng tôi để đòi tiền với giá cao…”

(Trích theo cuốn Cuộc tháo chạy tán loạn, NXB TP Hồ Chi Minh 2001)

Kỳ 43: Phạm Xuân Ẩn: Sinh ra để làm tình báo

Ông Mười Nho nói: “Các anh lãnh đạo ngày xưa phát hiện ra Hai Trung – Phạm Xuân Ẩn đúng là người sinh ra để làm tình báo. Anh Mười Hương đã có tầm nhìn chiến lược, biết chuẩn bị một cách căn cơ…”

Lần đầu tiên chúng tôi đi tìm ông Mười Nho, được nghe ông kể rất nhiều về Phạm Xuân Ẩn. Nhưng cách đây khoảng hơn hai tuần lễ, ông Mười Nho gọi chúng tôi đến.

Nghe ông gọi, tôi hơi sợ vì không biết mình có viết sai điều gì không. Nhưng ông vô cùng hồ hởi. Ông bảo nhiều người quen của ông đọc ký sự về ông Ẩn họ phấn khởi lắm, thấy cách mạng mình hào hùng vĩ đại lắm, tình báo mình tài tình lắm.

Ông hạ giọng nói nhỏ : “Họ nói tướng như ông Ẩn mới xứng là tướng cách mạng…”. Ông Mười Nho vừa rất tự hào. Nhưng người cán bộ chỉ đạo công tác tình báo chiến lược dày dạn trận mạc này thừa bản lĩnh để không tỏ ra bực mình.

Hôm đó ông lại nói về ông Ẩn, nhưng ông phân tích những khía cạnh ngọn nguồn của người mà ông cho là “xuất sắc nhất trong các lưới tình báo của ta”, người được ông Sáu Trí đánh giá là “lưới tình báo lý tưởng”, ông Mười Nho nói: “Các anh lãnh đạo ngày xưa phát hiện ra Hai Trung đúng là người sinh ra để làm tình báo. Anh Mười Hương đã có tầm nhìn chiến lược, biết chuẩn bị một cách căn cơ.

Gia đình Hai Trung là gia đình có truyền thống yêu nước, ông cụ là công chức ủng hộ cách mạng. Anh Mười Hương có lúc ở nhà ông cụ, được ông bà cụ chăm sóc, bảo vệ. Anh Nguyễn Vũ, anh Minh Sơn và nhiều cán bộ khác cũng đuợc ông bà cụ bảo vệ. Sau này các anh Lê Đức Thọ, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt, Cao Đăng Chiếm… đều gặp gỡ, động viên Hai Trung. Tình cảm đối với cách mạng đến với Hai Trung một cách tự nhiên. Anh Mười Hương còn trực tiếp chỉ cho Hai Trung con đường làm tình báo lâu dài. Tấm gương của những nhà cách mạng đó đã tác động đến Hai Trung rất lớn, để lại ấn tượng rất mạnh, giúp Hai Trung – vốn có tư chất rất thông minh – đã chịu đựng được thách thức, chịu đựng được căng thẳng lâu dài. Anh đã kiên trì học tập, phát huy hết khả năng của mình, trở thành vừa là một nhà tình báo có tầm cỡ, vừa là một nhà báo có tầm cỡ, được cả đôi đường, lại có tấm lòng trong sáng, giản dị, khiêm tốn”.

 

 Câu chuyện về cuộc đời của Tướng tình báo chiến lược Phạm Xuân Ẩn được nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải được soi rọi từ nhiều phía, nhiều góc độ để người đời hiểu ông rõ hơn.

Từ câu chuyện về Hai Trung, ông Mười Nho mở rộng: “Nếu Mỹ bỏ ra 1 triệu đồng cho hoạt động tình báo thì ta bỏ 1 đồng thôi, thậm chí chưa tới 1 đồng. Sức mạnh về tiền thì tình báo Mỹ là số 1. Kỹ thuật của nó cũng hiện đại nhất, còn ta thì hầu như không có gì. Thứ ba, Mỹ là một đế quốc, nó có thể sử dụng sức mạnh của nhiều đồng minh, chư hầu của nó, phối hợp hỗ trợ nhau. Thứ tư, Mỹ đào tạo cán bộ tình báo rất bài bản, rất chuyên sâu. Nếu so sánh trên các lĩnh vực đó ta không là gì cả so với Mỹ. Nhưng ta thắng tình báo Mỹ. Thế thì sức mạnh của tình báo ta là gì? Đó là sức mạnh, của chính nghĩa, của lòng yêu nước, sức mạnh của cả một dân tộc. Mỹ đi xâm lăng nên không thể có cái đó. Ta tiến hành chiến tranh nhân dân, tình báo của ta cũng là tình báo nhân dân. Không có sự hỗ trợ, che chở, bảo vệ của những người dân bình thường, tình báo ta không hoạt động được”.

Đối với ông Mười Nho, Hai Trung đúng là sản phẩm chính hiệu của cách mạng, sản phẩm chính hiệu của tình báo nhân dân. Ông nói một cách hào sảng nhưng rất thật thà, hoàn toàn không phải nói theo kiểu giảng chính trị, mà như gửi gắm, như nhắn nhủ.

Gặp các bậc lão thành cách mạng trong ngành tình báo, như ông Ẩn, ông Mười Nho, ông Sáu Trí, ông Tư Cang, ông Ba Minh…, được họ dẫn dắt về những câu chuyện của quá khứ, tôi cảm thấy mình bước vào một thế giới vô cùng mới mẻ.

Trong thế giới đó tôi thấy sự trong sáng mẫu mực của tình bạn, tình đồng chí. Họ khen nhau, họ tự hào về cái giỏi của bạn mình, nghe bạn mình được đề cao họ thấy như chính mình được đề cao. Ánh mắt, nụ cười của họ vô tư trong lành như những đứa trẻ. Kèn cựa, địa vị, công thần – những thói hư tật xấu đó không có trong thế giới của họ, mặc dù họ thuộc lớp trụ cột trong hàng ngũ những người đem thân giữ nước. Đó là thế giới của quá khứ, nhưng cũng là thế giới của tương lai…

Kỳ 44: Vì sao cảnh sát Sài Gòn nể trọng tướng Phạm Xuân Ẩn?

Đăng Bởi Một Thế Giới – 09:19 23-08-2015

Làm tình báo chiến lược, ông Ẩn có một lợi thế không ai có được. Đó là với tư cách một nhà báo, một nhà phân tích quân sự – chính trị, ông bao giờ cũng đứng ở trung tâm của các sự kiện ở miền Nam lúc đó, nói như Denis Warner, ông Ẩn có “đủ các nguồn tin dồi dào đến mức các nhà báo khác luôn ganh tị, và vì thế nên hầu như biết hết các bí mật của người Mỹ”. 

Có thể bạn quan tâm

>> Sát thủ 20 tuổi xả súng giết chết 13 người, bị thương 20 người khác tại Mỹ

>> Bài 2: Lừa dối khách hàng, TMV Kangnam liên kết với đối tác ảo ở Hàn Quốc

>> Ông Phó TGĐ “lĩnh lương gần 1 tỉ mỗi năm mà không kiếm được xu tài trợ nào” lên tiếng

 thể nói, mỗi một sự kiện đều được ông đặt trong mối tương quan với các sự kiện khác. Mỹ điều quân, các kế hoạch quân sự, việc tăng giảm viện trợ, thay đổi nhân sự, các âm mưu đảo chính, các cuộc vận động bầu cử, các cuộc biểu tình…

Tất cả đều có quan hệ tác động lẫn nhau, không thể hiểu thực chất cái này nếu không biết rõ cái kia. Chính vì vậy, mà trong nghề báo, ông là người rất có uy tín, được đồng nghiệp cũng như các giới chức quân sự, dân sự Mỹ và chế độ Sài Gòn nể trọng. Nhưng trong chiến tranh, cấp trên yêu cầu ông chủ yếu cung cấp những thông tin về quân sự hoặc những thông tin liên quan trực tiếp đến quân sự và tất nhiên là cấp trên coi trọng các tài liệu nguyên bản.

Ông Ẩn nói, hồi đó những thông tin về chính trị ông cũng gửi về nhưng chủ yếu để tham khảo. Cho nên những lợi thế của ông chưa được sử dụng hết để phục vụ trực tiếp cho công tác tình báo chiến lược. Điều đó không phải là khiếm khuyết trong chỉ đạo, vì ông là điệp viên thuộc cơ quan tình báo quân sự miền, mà nhiệm vụ chính của cơ quan này là chủ yếu là phục vụ cho quân sự.

Tuy nhiên, các “vốn liếng tồn kho” của một nhà báo đã giúp ích rất nhiều cho công tác của ông. Còn nhớ, phong trào chính trị của nhân dân miền Nam chống Mỹ và tay sai diễn ra thiên hình vạn trạng, ở nông thôn thì trụ bám chống càn, ở thành thị thì xuống đường đấu tranh đòi Mỹ cút về nước, đòi dân sinh dân chủ, v.v… Tất nhiên người Mỹ và chế độ Sài Gòn tìm mọi cách đàn áp.

Song có lúc tình báo Mỹ cũng lợi dụng các cuộc biểu tình. Ông Ẩn kể, hồi đó có một cuộc biểu tình kéo dài cả một tuần lễ, người biểu tình cướp xe Mỹ mang ra trưng bày giữa Sài Gòn mà tụi quân cảnh Mỹ chẳng đá động gì đến. Lúc đó Tổng nha Cảnh sát được lệnh đàn áp. Quyền trong tay, súng ống trong tay, nhưng rút kinh nghiệm thời Ngô Đình Diệm đàn áp biểu tình làm chết nhiều người, sau khi chế độ Diệm sụp đổ những người chỉ huy các cuộc đàn áp bị mất chức, nên viên sĩ quan cao cấp của Tổng nha rất lo.

Nếu không đàn áp thì sợ cấp trên, nhưng đàn áp thì sợ hậu họa. Viên sĩ quan cao cấp nọ đến hỏi ý kiến ông Ẩn: “Theo anh thì cuộc biểu tình này nên làm thế nào?”. Ông Ẩn nói: “Ông hãy phân tích bản chất cuộc biểu tình truớc. Tại sao gần một tuần rồi mà Mỹ vẫn làm ngơ. Mấy thằng quân cảnh Mỹ đâu phải là đồ vớ vẩn. Tại sao mấy ông sinh viên, thanh niên này cướp xe của nó mang ra trưng bày mà nó vẫn để yên? Ông có biết đám biểu tình này do ai xúi không? Ông không biết chớ gì? Thôi ông cứ đi tìm hiểu đã, rồi quay lại đây ta nói chuyện tiếp”. Viên sĩ quan liền cho thuộc hạ đi tìm hiểu, rồi quay lại chỗ ông.

Ông Ẩn hỏi: “Ông đã nắm được chưa? Chưa chứ gì? Ông có quyền mà ông không nắm được, tôi là ký giả làm sao nắm, ông nội! Nhưng tôi chỉ cho ông một cách. Những đứa biểu tình bị cảnh sát bắt, ông về cho nhốt riêng ra, bắt chúng khai ra ai đứng đằng sau”. Viên sĩ quan làm theo lời ông Ẩn, sau đó quay lại nói: “Kẻ xúi biểu tình không phải là Việt cộng”. Ông Ẩn: “Đó, ông thấy chưa, ông đàn áp đi! Lớ quớ là ông chết, mất chức như không à”.

Nhưng viên sĩ quan vẫn hỏi tiếp: “Thế thì làm sao để giải tán?”. Ông Ẩn: “Dễ thôi. Tôi chỉ cho ông cách này nhé. Ông cho cảnh sát áo trắng đi trước, cảnh sát dã chiến đi sau. Cảnh sát áo trắng ném lựu đạn nhưng chỉ được dùng lựu đạn cay, đủ để cay con mắt cho người ta về nhà thôi, ông mà dùng lựu đạn mửa làm mấy cô gái, mấy người đàn bà có chửa chịu không nổi ngất xỉu là ông đi tù liền à. Roi thì phải dùng roi mây nhỏ để dọa, chứ dùng roi lớn lỡ đánh bể đầu người ta, ông cũng chết. Cảnh sát dã chiến đi sau dùng súng, nhưng ông phải lệnh cho thằng chỉ huy kiểm soát súng cẩn thận, chỉ để đạn mã tử bắn chỉ thiên thôi, không đứa nào được để đạn thật, ai cãi lệnh dù để một viên đạn thật, ông cứ tống vào tù cho tôi. Ông cứ làm như vậy đi”.

Viên sĩ quan nghe theo, kết quả như ý, nên rất biết ơn ông Ẩn. Đổi lại, ông Ẩn cần gì ông ta đều đáp ứng. Những “mẹo vặt” đó được ông sử dụng rất nhuần nhuyễn, vừa khiến cho đối phương cảm thấy họ được ông giúp một cách chân thành, vừa khéo léo bảo vệ những người yêu nước lẫn trong đám biểu tình.

Kể lại với chúng tôi chuyện này, ông Ẩn nói, sự thật là cuộc biểu tình do Mỹ chế ra. Chúng định dùng một viên đạn bắn trúng hai con chim: Thứ nhất là nhử “Việt cộng”, thấy ló ra thì bắt. Thứ hai là thông qua đó để “phát bằng cấp” tình báo Mỹ. Chúng cho một số làm ra vẻ đấu tranh rất hăng hái, rồi bắt giam, đem tra tấn cho máu me đầy người (thực ra là máu gà, máu bồ câu), sau đó thả ra cùng với một số “Việt cộng” thật, để chúng chui vào hàng ngũ của ta. Chính nghề báo đã giúp ông rất nhạy bén với những thủ đoạn của CIA.

Kỳ 45: Đại tướng Mai Chí Thọ nói về Phạm Xuân Ẩn

Đăng Bởi Một Thế Giới – 16:11 20-06-2015

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết (phải) và Đại tướng Mai Chí Thọ tại lễ trao tặng huân chương Sao Vàng

Đại tướng Mai Chí Thọ (thường gọi là ông Năm Xuân), nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bộ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) là một trong những người đặt nền móng xây dựng hệ thống tình báo kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Sau Hiệp định Genève, ngày 16.10.1954, Xứ ủy Nam Bộ đã lập ngay Ban Nghiên cứu Xứ ủy (thực chất là cơ quan tình báo và phản gián) do Bí thư Xứ ủy Lê Duẩn trực tiếp phụ trách.

Có thể bạn quan tâm

>> Sát thủ 20 tuổi xả súng giết chết 13 người, bị thương 20 người khác tại Mỹ

>> Bài 2: Lừa dối khách hàng, TMV Kangnam liên kết với đối tác ảo ở Hàn Quốc

>> Ông Phó TGĐ “lĩnh lương gần 1 tỉ mỗi năm mà không kiếm được xu tài trợ nào” lên tiếng

Trưởng ban là ông Văn Viên, Phó ban là ông Mai Chí Thọ, ủy viên là các ông Cao Đăng Chiếm, Hoàng Minh Đạo, Trần Quốc Hương (Mười Hương). Giữa năm 1955, ông Văn Viên hy sinh, ông Mai Chí Thọ làm Trưởng ban. Ban Nghiên cứu có nhiệm vụ xây dựng, phát triển lực lượng tình báo và “hiểu địch toàn diện” về các mặt quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao. Các ủy viên được phân công chuyên trách từng lĩnh vực: tình báo quân sự, tình báo chính trị, phản gián, tình báo chiến lược…

Lúc đó Ban đã tiếp nhận lực lượng mật từ nhiều nguồn của Công an Nam Bộ, của quân báo, cơ sở mật dân chính, cơ sở mật của tình báo chiến lược. Ban Nghiên cứu Xứ ủy tồn tại đến năm 1960, nhiệm vụ công tác tình báo sau đó được giao cho Ban Địch tình Xứ ủy, rồi Phòng Quân báo miền và sau này là Phòng Tình báo miền. Trong hoàn cảnh vô cùng cam go ác liệt khi cách mạng miền Nam bị dìm trong biển máu, Ban Nghiên cứu Xứ ủy đã tạo được tiền đề và để lại một hành trang vô cùng quý giá cho việc phát triển hệ thống tình báo sau này. Nhiều lưới tình báo được Ban Nghiên cứu xây dựng đã phát huy tác dụng phục vụ xuất sắc trong những giai đoạn sạu này. Phạm Xuân Ẩn là lưới tình báo đặc biệt do chính Ban Nghiên cứu của Xứ ủy xây dựng.

Tiếp tôi tại nhà riêng, ông Năm Xuân vui vẻ nói chuyện suốt cả một buổi sáng, ông nói chuyện quá khứ rồi dẫn dắt qua hiện tại. Ông phân tích thẳng thắn, sắc sảo, giọng đầy tâm huyết, xen vào đó là nỗi niềm ưu tư về thời cuộc. Câu chuyện đầu tiên xoay quanh Phạm Xuân Ẩn. Ông Năm Xuân nói: “Phạm Xuân Ẩn có đầy đủ tố chất của một nhà tình báo, nếu không muốn dùng từ vĩ đại thì phải gọi là rất giỏi. Con người anh ấy có đủ Nhân-Trí-Dũng”.

Như để minh chứng cho phẩm chất của Phạm Xuân Ẩn, ông Năm Xuân nói về một thời kỳ mà ông cho là “đen tối” của cách mạng. “Từ năm 1954 đến 1959, tư tưởng hữu khuynh đã đưa Đảng bộ miền Nam vào tình thế rất khó khăn. Từ 1954 – 1956 chưa đấu tranh võ trang là có thể chấp nhận được, vì thế Hiệp định Genève đây là thời gian tổng tuyển cử. Nhưng từ tháng 7.1957 trở đi, đáng lẽ phải đấu tranh võ trang thì chúng tôi không được làm mà chỉ đấu tranh chính trị, nên thiệt hại rất nặng. Riêng miền Đông Nam Bộ lúc đầu cán bộ đông, sàng lọc lại vẫn còn 20 ngàn người, nhưng đến năm 1959 bắt đầu cho đấu tranh võ trang thì chỉ còn hơn 800, tức còn chưa tới 5%.

Không đấu tranh võ trang nên ta không tự vệ được. Lúc này phe xã hội chủ nghĩa, sau chiến tranh thế giới thứ hai và sau chiến tranh Triều Tiên, có xu hướng hòa bình chủ nghĩa, sức ép khách quan đó tác động đến ta rất lớn. Đảng bộ miền Nam như sợi chỉ mành treo chuông. Không có võ trang, Văn phòng Xứ ủy phải đóng bí mật ngay tại Sài Gòn, mà Xử ủy toàn là những người “vua biết mặt, chúa biết tên” cả, muôn phần nguy hiểm. Đồng chí Phó bí thư Xứ ủy Hoàng Dư Khương bị bắt. Đồng chí Lê Duẩn cũng ở Sài Gòn, rồi xuống Bạc Liêu, đồng chí Võ Văn Kiệt, Bí thư Bạc Liêu tổ chức bảo vệ. Nhưng dân người ta thấy ông này được tôn trọng quá cũng dễ bị nghi, đồng chí Lê Duẩn lại để râu cải trang, nhưng để râu thì trông hao hao giống Cụ Hồ, rất dễ bị người ta chú ý, lại phải di chuyển.

Bức xúc quá, Xứ ủy phải phái hai đồng chí Thường vụ Xứ ủy là anh Hai Xô và anh Phan Văn Đáng ra xin Trung ương cho chiến đấu võ trang (ra cùng đồng chí Lê Duẩn). Các anh đó phải chờ hơn 1 năm, đầu năm 1959 Trung ương họp nhưng đến tháng 3 vẫn chưa có nghị quyết, các anh rất sốt ruột. Lúc đó đồng chí Lê Duẩn rất ủng hộ chiến đấu võ trang nhưng Trung ương vẫn chưa ra nghị quyết. Hai anh đến nói với đồng chí Lê Duẩn xin về, đồng chí Lê Duẩn bảo đến gặp Bác Hồ.

Bác hỏi rất kỹ tình hình. Nghe hai anh báo cáo xong, Bác nói: Dù sao cũng không thể để cách mạng miền Nam thiệt hại hơn được nữa. Thời kỳ ấy, chúng ta lại phạm sai lầm trong cải cách ruộng đất. Phe xã hội chủ nghĩa thì bắt đầu rạn nứt, Khrushchev công bố tài liệu tố cáo sai lầm của Staline, mà Liên Xô là lực lượng chủ lực đánh thắng phát xít, Staline đang là thần tượng. Tình hình đó làm cho cách mạng miền Nam càng thêm khó khăn. Biết bao đồng chí đã bị sát hại, bị tra tấn tù đày. Một số không chịu nổi thử thách ra đầu hàng đầu thú, một số mất tinh thần. Trung ương sau này cũng đã thừa nhận tình hình đen tối đó. Phạm Xuân Ẩn cũng như các đồng chí làm tình báo khác đã cùng với đồng chí đồng bào giữ vững niềm tin, kiên định lập trường trong một hoàn cảnh như vậy, dù người phụ trách trực tiếp Ẩn lúc đó là anh Mười Hương cũng bị bắt…”.

Kỳ 46: Đại tướng Mai Chí Thọ nói về Phạm Xuân Ẩn (tiếp theo)

Đăng Bởi Một Thế Giới – 11:48 22-06-2015

Các nhà chính trị thường thận trọng khi đưa ra các nhận định về cá nhân. Nhưng ông Năm Xuân không chút ngần ngại nào khi bảo ông Ẩn có đủ Nhân-Trí-Dũng

Có thể bạn quan tâm

>> Sát thủ 20 tuổi xả súng giết chết 13 người, bị thương 20 người khác tại Mỹ

>> Bài 2: Lừa dối khách hàng, TMV Kangnam liên kết với đối tác ảo ở Hàn Quốc

>> Ông Phó TGĐ “lĩnh lương gần 1 tỉ mỗi năm mà không kiếm được xu tài trợ nào” lên tiếng

Ông Năm Xuân nói tiếp chuyện ông Hai Xô và Phan Văn Đáng: “Sau khi nói dù sao cũng không thể để cách mạng miền Nam thiệt hại hơn được nữa, Bác Hồ nói tiếp: Xứ ủy có phải là Đảng không? Các chú là Xứ ủy, các chú phải chịu trách nhiệm với nhân dân, phải xem xét tình hình thực tế cho kỹ lưỡng mà quyết định. Trung ương ở xa không thể hiểu hết được. Các anh nghe lời Bác Hồ như mở tấm lòng, lập tức lên đường về miền Nam. Lúc ấy giao thông rất khó khăn, hai anh là những cán bộ đầu tiên vượt Trường Sơn vào Nam sau Hiệp định Genève, đi 6 tháng mới về tới Văn phòng Xứ ủy (khoảng tháng 9 hoặc tháng 10.1959).

Nhận được sự chỉ đạo của Bác, Xứ ủy rất mừng và bắt tay chuẩn bị đánh võ trang. Tháng 11, Nghị quyết 15 của Trung ương cũng vào tới nơi, cho võ trang tự vệ và võ trang tuyên truyền. Từ đó nhân dân miền Nam bắt đầu đồng khởi”. Về sự gian truân của cố Tổng bí thư Lê Duẩn lúc đó, ông Năm Xuân nói rõ thêm: “Sau Hiệp định Genève, anh Ba ở lại Nam Bộ hoạt động, trước sự càn quét đánh phá ác liệt của địch vào cơ sở của ta, ban đầu anh ở Bạc Liêu, sau phải lên Bến Tre, ở Bến Tre không an toàn; phải xuống Sài Gòn, ở Sài Gòn cũng không an toàn, anh phải sang Nam Vang (Phnom Penh) và được Bác Hồ điều động về Hà Nội”.

Trở lại chuyện của Phạm Xuân Ẩn. Các nhà chính trị thường thận trọng khi đưa ra các nhận định về cá nhân. Nhưng ông Năm Xuân không chút ngần ngại nào khi bảo ông Ẩn có đủ Nhân-Trí-Dũng. “Nhân là nhân ái, trung nghĩa, dễ gần, sống có hậu – những chuyện mà các đồng chí viết về Phạm Xuân Ẩn hàm chứa tất cả những cái đó. Cả đối với Trần Kim Tuyến nữa, Phạm Xuân Ẩn cũng xử sự rất đàng hoàng. Cách xử sự đó là rất cần! Trí là tầm nhìn, là trí tuệ, là mưu trí. Dũng là kiên định, dũng cảm, không ngán ngại, sẵn sàng xả thân. Những đức tính có thể hiện rõ ở Phạm Xuân Ẩn. Ảnh là một anh hùng rất xứng đáng”, ông Năm Xuân lý giải.

 

 Đại tướng Mai Chí Thọ (trái) và đồng chí Nguyễn Thanh Liêm

“Thưa đại tướng, là người phụ trách tình báo miền lúc đó, đại tướng có thể cho biết cơ quan đã chuẩn bị đưa Phạm Xuân Ẩn đi học ở Mỹ như thế nào ?”, tôi hỏi. Ông Năm Xuân: “Chuyện Phạm Xuân Ẩn đi Mỹ học, các đồng chí cũng đã biết rồi. Lúc bấy giờ ta rất cần tin tức, nhưng phải cho ảnh đi học để chuẩn bị cho kế hoạch lâu dài. Chúng tôi phải lo gần 100 ngàn đồng cho đồng chí có chi phí đi học. 100 ngàn đồng lúc đó lớn lắm, 1 đô-la Mỹ chỉ ăn mấy chục đồng thôi. Cơ quan đang hoạt động bí mật mà chạy được 100 ngàn đồng là gian truân vô cùng, nhưng chết sống gì cũng phải chạy. Anh Mười Hương nói với tôi phải lo được như thế Ẩn mới đi được. Cho nên tôi phải lo gom đủ số tiền đưa anh Mười Hương để anh Mười Hương trợ cấp chi phí cho Ẩn đi học. Để có được một người tình báo hoạt động lâu dài, chúng tôi đã phải vượt qua nhiều khó khăn lắm”.

Tôi tò mò: “Nghe nói chuyện lấy vợ cho Phạm Xuân Ẩn, tổ chức cũng phải lo ?”. “Lo thì không lo gì nhưng phải bàn bạc. Tất nhiên hai người phải bằng lòng với nhau mới được, chứ làm sao mà ép, tình yêu mà ! Vợ con, gia đình là chuyện cả đời của đồng chí mình. Nhưng phải bàn bạc, người đó phải hợp với đồng chí, hai bên phải yêu nhau; song phải bảo đảm an toàn cho công tác tình báo, cho được cả hai đường. Nếu chỉ đảm bảo an toàn mà không đem lại hạnh phúc cho đồng chí mình cũng không được. Cho nên phải lựa chọn, rồi trao đổi cái này cái nọ. Cuối cùng thì rất yên tâm, hai vợ chồng rất hạnh phúc mà an toàn cũng đảm bảo. Ảnh đã giữ bí mật được cho đến ngày giải phóng…

Cũng xoay quanh câu chuyện về Phạm Xuân Ẩn, ông Năm Xuân nói tiếp: “Như các đồng chí đã viết trên báo, xung quanh một người hoạt động tình báo là cả một mạng lưới, nào là giao liên, nào là chuyển vận, nào là lãnh đạo, chỉ đạo. Lúc bấy giờ sau khi được giao trách nhiệm tổ chức mạng lưới tình báo phía Nam, chúng tôi đã đặt ngay vấn đề phải đảm bảo mạng giao thông liên lạc. Chúng tôi đã xin Xứ ủy cho tuyển lựa trong số chị em phụ nữ chiến đấu dũng cảm, những chị nhiều kinh nghiệm nhất, tinh thần vững vàng nhất, và xin được khoảng ba chục chị em như thế. Ba chục chị em đó sau này có 3 – 4 chị được phong anh hùng, trong đó có chị Ba. Nhưng nếu xét kỹ các chị khác nữa, thì số xứng đáng phong anh hùng cũng phải gấp đôi gấp ba. Rất tiếc là các ảnh làm chưa kịp. Các chị này đều rất can đảm, nhiều kinh nghiệm và không lộ liễu, giỏi thế đấy ! Người làm tình báo thì tự tin ở mình rồi, nhưng chính việc chuyển giao tài liệu làm người ta sợ nhất. Nhiều cơ sở tình báo rất ngon lành, ví dụ có một anh ngay từ hồi chống Pháp đã “đi sâu leo cao”, cuối cùng vào được vị trí rất quan trọng trong Văn phòng Bộ Tổng tham mưu ngụy, bao nhiêu những mưu đồ, tổ chức, trang bị, huấn luyện, hành quân… nắm được hết, nhưng chỉ vì giao liên mà bị lộ (giao liên đưa một tài liệu quan trọng từ đây ra Bắc, bị lộ và bị bắt tại Huế). Chúng tôi đã phải tổ chức đưa ảnh ra căn cứ. Thật quá tiếc. Nói thế để thấy chị Ba và hệ giao liên lưới anh Ẩn đã làm rất tốt”.

(còn tiếp)

Hoàng Hải Vân – Tấn Tú/Thanh Niên

Giải thích lý do vì sao tình báo Mỹ không thể đưa người “đi sâu, leo cao” vào hàng ngũ của ta, ông Năm Xuân nói: “Muốn làm chuyện đó thì phải dùng người Việt. Nhưng đặc điểm của tay sai là ham tiền và sợ chết, cho nên không thể nào chịu được gian khổ”. Có lần trả lời một nhà báo nước ngoài, ông Năm Xuân – một vị lão tướng của “Việt cộng” đã nói như sau về tình báo Mỹ: “CIA giỏi lắm, cái gì cũng giỏi. Cái kém của họ là đã đến xâm lược nước tôi. Vào nước tôi, họ phải đối phó với mấy chục triệu dân nước tôi quyết tâm bảo vệ đất nước mình, làm sao mà họ thắng được! Cái dở của họ là đi xâm lược nước người ta, chứ không phải bản thân họ dở”.

Kỳ 48: Tại sao người Mỹ lại thích Phạm Xuân Ẩn?

Đăng Bởi Một Thế Giới – 10:01 24-06-2015

Ông Mười Hương

Ông Mười Hương (tức Trần Quốc Hương, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương) chính là người xây dựng mạng lưới tình báo chiến lược kháng chiến chống Mỹ.

Có thể bạn quan tâm

>> Sát thủ 20 tuổi xả súng giết chết 13 người, bị thương 20 người khác tại Mỹ

>> Bài 2: Lừa dối khách hàng, TMV Kangnam liên kết với đối tác ảo ở Hàn Quốc

>> Ông Phó TGĐ “lĩnh lương gần 1 tỉ mỗi năm mà không kiếm được xu tài trợ nào” lên tiếng

Phạm Xuân Ẩn và những nhà tình báo lừng danh như Phạm Ngọc Thảo (nguyên mẫu của nhân vật Nguyễn Thành Luân trong phim Ván bài lật ngửa, tác giả kịch bản: nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng), “ông cố vấn” Vũ Ngọc Nhạ (nguyên mẫu trong phim Ông cố vấn), Lê Hữu Thúy (nguyên mẫu của nhân vật Lê Nguyên Vũ trong tiểu thuyết tình báo Điệp viên giữa sa mạc lửa), v.v… đều do ông Mười Hương trực tiếp tổ chức. Ông Mười Hương là nhà cách mạng đầy mưu lược, có tầm nhìn xa trông rộng và là nhà tổ chức hoạt động tình báo chuyên nghiệp có cuộc đời đầy sóng gió.

 

  

Ông Mười Hương và các điệp viên trong một lần gặp gỡ

Mặc dù tuổi già, sức yếu và hậu quả của cơn tai biến mạch máu não khiến ông đi lại rất khó khăn, nhưng ông Mười Hương đã vui vẻ nói chuyện với chúng tôi cả một buổi chiều tại nhà riêng. Tôi thưa: “Để có được một nhà tình báo chiến lược như Phạm Xuân Ẩn, phải kể đến công lao quan trọng nhất của ông…”, ông Mười Hương ngắt lời: “Chính ông Ẩn mới là quan trọng nhất, chứ bọn tớ chỉ là người chỉ tay năm ngón thôi”.

Ông nói tiếp: “Làm tình báo cũng như anh diễn một vở kịch, chỉ khác nhau là vở kịch người ta chỉ diễn tối đa bốn, năm tiếng đồng hồ, đằng này ông Ẩn lại đóng cả đời ổng. Cái khó chính là ở chỗ đó. Trong một vở kịch hay, có người khen diễn viên, có người khen đạo diễn, có người khen tác giả kịch bản. Nhưng tôi nghĩ mọi thành sự ở đời đều là cái công của tập thể. Mỗi người đều có vai trò, nếu anh làm đúng vai trò của mình…”.

“Chính từ yêu cầu của ông mà ông Ẩn trở thành nhà báo, vì sao vậy ?”. “Tôi nghĩ đến việc Phạm Xuân Ẩn phải trở thành một nhà báo là do sự gợi ý rút ra từ cuộc đời Bác Hồ. Trong cuộc đời hoạt động bôn ba của mình, Bác Hồ luôn luôn dùng danh hiệu ký giả, lúc Bác bị bắt năm 1940 cũng dưới danh nghĩa là ký giả.

Năm 1945, khi ta mới giành chính quyền, lúc bấy giờ một số nhà báo nước ngoài cũng tìm cách xỉa xói chính quyền non trẻ của chúng ta. Bác lưu ý các đồng chí lãnh đạo rằng phải cẩn thận với họ, vì họ là “đệ tứ quyền”, tiếng nói của họ có ảnh hưởng lớn lắm. Tôi nhớ mãi điều Bác Hồ nói. Hồi chống Pháp, anh Ẩn là cơ sở của Đoàn Thanh niên thành phố, như các anh biết đấy, ông Phạm Ngọc Thạch đã chọn anh ấy làm tình báo, anh ấy làm rất tốt, thế nhưng lúc bấy giờ yêu cầu của ta chỉ ở mức lấy tin tức xung quanh việc chuyển quân của Pháp thôi.

Anh ấy lại giỏi tiếng Anh, sau đó làm ở cơ quan MACV (cơ quan viện trợ Mỹ), lúc bấy giờ sau Hiệp định Genève, Mỹ đang thay chân Pháp. Tôi bảo: Cậu làm ở đây giỏi lắm thì lên đến đại tá, mà đại tá thì không nắm được bao nhiêu tin tức. Làm chính khách thì ở chỗ nhốn nháo đó cũng có ngày bị tù. Cho nên không gì tốt hơn làm nghề báo. Làm báo là làm chính trị mà như không làm chính trị. Mà làm báo thì phải cho thật giỏi, giỏi thì tụi Mỹ mới kính trọng, tụi ngụy mới nể. Muốn vậy phải sang Mỹ học”.

Ngừng một lúc, ông Mười Hương nói tiếp: “Phải nói đến công bà cụ thân sinh anh Ẩn. Công bà cụ lớn lắm. Nhà anh Ẩn lúc đó rất nghèo, bà cụ phải chạy vạy mọi cách để kiếm tiền cho Ẩn đi học, tổ chức chỉ hỗ trợ chút ít thôi, chứ lúc ấy làm gì có tiền cho Ẩn đi Mỹ”. Theo ông Mười Hương, trong tất cả những cái khó lúc ấy, phải kể đến lý lịch. Giấu người Mỹ về lý lịch thì khó lắm. Mặc dù ông Ẩn có một người em đi tập kết nhưng ông Mười Hương bảo cái gì đã giấu thì giấu biệt luôn, phải quên chuyện ấy đi, coi như không biết đến, nếu có bị hỏi đến thì cũng nói là không biết. Ông Ẩn đã làm đúng lời ông Mười Hương và đã qua mặt được người Mỹ trong chuyện lý lịch.

“Ông bảo với ông Ẩn là phải viết báo Mỹ như người Mỹ chứ không phải như người Việt viết báo Mỹ?”. “Đúng vậy. Tôi nói: Cậu phải viết, phải nghĩ như chính người Mỹ, nếu không làm được việc ấy thì không ăn đâu, cho nên sang đó cậu phải học thật kỹ về văn hóa Mỹ, phải hiểu thật sâu về con người Mỹ, có làm như thế mới nhập vai tốt được. Anh Ẩn đã làm được điều đó. Anh ấy rất thông minh, tác phong rất Tây, lại hay bông phèng, lúc nào cũng đùa giỡn, nên tụi nó rất thích chơi với Ẩn. Từ đó tự nhiên mở được quan hệ rất rộng. Không phải Ẩn có nhiều tiền mà tụi nó thích đâu. Phải nói rằng, Ẩn là người làm tình báo rất giỏi, lấy được những tin tức vô cùng quan trọng như vậy, nhưng tổ chức tốn ít tiền nhất…”.

Kỳ 49: Cấp trên nghĩ gì khi Phạm Xuân Ẩn giúp Trần Kim Tuyến di tản?

Đăng Bởi Một Thế Giới – 11:04 25-06-2015

Những cựu cán bộ tình báo (từ trái sang): Vũ Chính, Phạm Xuân Ẩn, Trần Quốc Hương (Mười Hương), Trần Hiệu, Lê Hữu Thuý, Đặng Trần Đức (Ba Quốc).

Ông Mười Hương nói: “Đứng về phía tình báo nếu anh Ẩn tiếp tục ra nước ngoài thì vẫn phát huy tác dụng rất tốt…”. Vậy tại làm sao sau giải phóng không cho Phạm Xuân Ẩn đi tiếp? Đã để cho vợ con ra đi rồi lại phải đưa về?…

Có thể bạn quan tâm

>> Sát thủ 20 tuổi xả súng giết chết 13 người, bị thương 20 người khác tại Mỹ

>> Bài 2: Lừa dối khách hàng, TMV Kangnam liên kết với đối tác ảo ở Hàn Quốc

>> Ông Phó TGĐ “lĩnh lương gần 1 tỉ mỗi năm mà không kiếm được xu tài trợ nào” lên tiếng

Ông Mười Hương cũng nói đến nhà tình báo Liên Xô Richard Sorge:

“Sorge là nhà tình báo vĩ đại, một trong những công lớn của ông ấy là báo được cho Staline biết (tháng 8.1941) Nhật lúc bấy giờ không mở mặt trận phía đông đánh Liên Xô. Nhưng nhà tình báo vĩ đại ấy cũng không lấy được nhiều tài liệu bằng Phạm Xuân Ẩn. Ẩn đã hoạt động liên tục, lấy được những tài liệu quan trọng cho đến khi chiến tranh kết thúc… Sau này trong tổng kết, ta có khẳng định: Tất cả những chuyển hướng chiến lược của Mỹ chúng ta đều biết trước, trong chiến tranh mà biết trước được như thế thì tuyệt vời lắm”.

Ông lại nói về mẹ ông Ẩn, giọng xúc động: “Bà già rất thương tôi. Ẩn kể rằng bà thương tôi đến nỗi lúc bà bị bệnh nặng, đầu óc đã lẫn lộn, quên hết mọi người, nhưng vẫn còn nhớ tên hai người: Ẩn, con trai cả của bà, và tôi. Những khi tôi đến bà vẫn nhận ra tôi”.

“Hồi đó tôi liên lạc với Ẩn được hơn 1 năm, năm 1957 Ẩn đi Mỹ, năm 1958 tôi bị bắt. Nhưng tôi rất quý trọng Ẩn và tình cảm của chúng tôi cho đến ngày nay vẫn nguyên vẹn như xưa. Khi biết tôi đã bị bắt mà Ẩn ở Mỹ vẫn dám về bắt liên lạc với tổ chức, thật là hiếm thấy. Ẩn là người rất trung thành”. Ông Mười Hương nhớ lại.

“Ông nói phải viết và suy nghĩ như người Mỹ, ngoài việc để nhập vai, còn có hàm ý rằng chúng ta phải học tất cả những cái tốt của đối phương ?”.

“Đúng thế. Chính Bác Hồ cũng làm như vậy và Bác cũng từng được nhiều người nước ngoài, trong đó có người Mỹ, người Anh giúp. Chẳng hạn lúc Bác bị bắt ở Hồng Kông, chính một luật sư người Anh đã cứu Bác. Tôi còn nhớ câu mà Bác đã nói với tôi: Này, chú nhớ nhé, hy sinh cho Việt Nam không chỉ có người Việt Nam đâu, còn có cả những người Mỹ nữa đấy!”.

“Ông nghĩ như thế nào về chuyện ông Phạm Xuân Ẩn đưa ông Trần Kim Tuyến đi di tản hồi năm 1975 ?”.

“Tôi cho rằng anh Ẩn làm như vậy là đúng đấy, chứ không sai gì cả. Đó chính là sự cao thượng của người cách mạng, của người Việt Nam. Và cái ân huệ ấy biết đâu lại khiến cho những người như Trần Kim Tuyến khi ở nước ngoài có cái nhìn khác đi về đất nước. Họ có vợ, có con, không chừng con họ sau này sẽ làm những chuyện có ích cho đất nước. Tầm nhìn chiến lược phải là như vậy”.

Trở lại chuyện vợ con ông Ẩn được báo TIME đưa đi di tản hồi năm 1975. Câu hỏi đặt ra là tại sao ông Ẩn không đi nhưng lại để vợ con đi, rồi sau đó phải tìm cách đưa về ?

Ông Mười Nho kể lại rằng: “Sau này nhiều đồng chí (ngoài ngành tình báo) cho rằng nếu “cao cờ” thì để Phạm Xuân Ẩn tiếp tục ra nước ngoài hoạt động, sẽ làm thêm được biết bao nhiêu chuyện quan trọng cho đất nước, vì đến giải phóng Ẩn vẫn chưa bị lộ. Nhưng hồi đó đại tướng Văn Tiến Dũng, sau khi báo cáo với Bộ Chính trị, đã quyết định cho Ẩn  lại. Anh Văn Tiến Dũng sau này nói, đại ý: Anh Ẩn là vốn quý của đất nước, anh ấy làm tình báo mấy chục năm rồi, bây giờ mà tiếp tục khai thác nữa thì với khả năng và điều kiện của mình, anh ấy vẫn phát huy tác dụng rất tốt, nhưng quá trình ra nước ngoài rất dễ bị lộ, cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra, lúc ấy tổn thất là rất lớn. Vì vậy dứt khoát chúng ta phải ổn định cuộc sống cho Ẩn, tiếp tục khai tháckinh nghiệm của anh ấy truyền lại cho thế hệ sau. Phải giữ an toàn cho Ẩn đến suốt đời. Đó chính là cái tình của người cách mạng”.

Còn ông Mười Hương thì nói với chúng tôi: “Thú thật, đứng về phía tình báo thì tôi rất tiếc. Anh Ẩn mà tiếp tục ra nước ngoài thì sẽ phát huy tác dụng rất tốt. Nên giải phóng xong gặp anh Văn Tiến Dũng tôi hỏi ngay: Tại làm sao mà anh lại không cho Ẩn đi tiếpđể cho vợ con anh ấy đi rồi lại phải đưa về?

Tính tôi vốn thế, hay hỏi thẳng. Anh Dũng nói với tôi: Anh thử tưởng tượng xem: Một người cán nằm hơn 20 năm trong lòng địch, bây giờ lại tiếp tục cử đi nữa, anh hỏi có nên không? Tôi nghĩ đến chính sách đối với đồng chí mình, nên bàn với Quân ủy Trung ương kiên quyết giữ lại. Cho nên tôi đã nói với cục 2: Tìm cách đưa vợ con anh ấy về mà trông nom, mình không thể vắt chanh đến hơn như thế được. Đó là lí do anh Ẩn ra đi”.

Kỳ 50: Phạm Xuân Ẩn: người thầy của những nhà tình báo vĩ đại

Đăng Bởi Một Thế Giới – 08:23 26-06-2015

Ông Trần Quốc Hương (Mười Hương) – nguyên bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng, chỉ huy mạng tình báo chiến lược – chia sẻ những ký ức về Phạm Xuân Ẩn tại buổi ra mắt cuốn sách Điệp viên hoàn hảo X6 .

Ông Mười Hương nói Phạm Xuân Ẩn, Phạm Ngọc Thảo… là những nhà tình báo vĩ đại. “Đóng vai đạt đến mức nhiều người cho rằng phản cách mạng. Cái nghề này  như thế đó !…”. Ông Mười Hương vừa nói vừa bật khóc nức nở. Chúng tôi lặng đi. Không thể hỏi gì thêm. Những giọt nước mắt của ông nói lên tất cả. Ông đúng là người thầy của những nhà tình báo vĩ đại…

Có thể bạn quan tâm

>> Sát thủ 20 tuổi xả súng giết chết 13 người, bị thương 20 người khác tại Mỹ

>> Bài 2: Lừa dối khách hàng, TMV Kangnam liên kết với đối tác ảo ở Hàn Quốc

>> Ông Phó TGĐ “lĩnh lương gần 1 tỉ mỗi năm mà không kiếm được xu tài trợ nào” lên tiếng

Có thời gian được gần gũi với Bác Hồ, ông Mười Hương chịu ảnh huởng sâu sắc cách nhìn, cách xử lý những việc quốc gia đại sự của Bác.

Ông nói: “Tôi cho rằng Bác Hồ là người đã chỉ ra cách giải quyết hết thảy những vấn đề của đất nước, không những đối với kẻ địch xâm lược mà cả vấn đề tôn giáo, dân tộc…”.

Ông Mười Hương nói tiếp: “Đối với vấn đề tôn giáo, hồi đó một số đồng chí có những ý kiến khác nhau, Bác bảo: Các chú này hay thật, các chú có lý tưởng của các chú, người ta có lý tưởng của người ta, các chú chưa làm cho người ta tin vào lý tưởng củacác chú thì người ta phải đi hỏi ông sư, hỏi ông cha chứ… “.

Ông Mười Hương kể một câu chuyện mà ông cho rằng “hơi dính” đến nhà tình báo Vũ Ngọc Nhạ: “Sau cách mạng tháng Tám, người đến gặp và mời giám mục Lê Hữu Từ về làm cố vấn cho Chính phủ lúc đó chính là Bác Hồ đấy… Về sau tôi hỏi Bác: Tại sao mình đã có các cha như Phạm Bá Trực,… rồi mà còn đi tranh thủ ông Lê Hữu Từ làm gì? Bác bảo: Chưa đủ đâu chú ạ. Trong công giáo có nhiều dòng tu, nhưng  cái dòng tu chỗ ông Lê Hữu Từ là dòng tu được bên Tòa thánh trân trọng nhất, vì vậy mình phải tranh thủ ông Lê Hữu Từ…Mà tranh thủ Lê Hữu Từ tức là tranh thủ một bộ phận khá đông giáo dân đi theo ta…”.

Từ câu chuyện đó, sau này tôi vào Nam, tôi thấy rằng Ngô Đình Diệm chưa nắm được các dòng tu công giáo thân Pháp mà tiêu biểu là Lê Hữu Từ. Cho nên tôi nói với anh Nhạ: Anh làm sao bám cho được chỗ này, đến một lúc nào đó ta sẽ cần, phải theo dõi mâu thuẫn của họ rồi khai thác. Quả đúng như vậy. Anh Nhạ có kể lại rằng Lê Hữu Từ có lần nói: Tổng thống (Diệm) của chúng ta kính người Mỹ quá. Như vậy có nghĩa là ông Từ không tán thành ông Diệm. Hay trước khi đi La Mã chữa bệnh, ông Từ có nói với Diệm: Không biết lúc tôi về có gặp được tổng thống không. Diệm bảo: Đức cha à, con thấy việc không có gì đâu, không dại gì người Mỹ bỏ ra bao nhiêu năm lo cho mình mà lại bỏ rơi mình

Anh Nhạ đã đi sâu vào lợi dụng những mâu thuẫn ấy. Vừa rồi tôi xem phim Ông cố vấnthì thấy thể hiện rõ chỗ này, còn lúc đọc sách tôi thấy nói chưa rõ vì sao ông Nhạ sử dụng được quân bài ấy.

Phải biết rằng ông Diệm rất cần ông Từ mà không nắm được, vì một anh thân Mỹ, còn một anh thì thân Pháp. Và chính anh Nhạ làm được cái cầu nối giữa họ Ngô với Lê Hữu Từ. Anh Nhạ làm việc ấy rất giỏi. Có lần đưa anh. Nhạ về gặp anh Năm Xuân (đại tướng Mai Chí Thọ), sau đó anh Năm Xuân nói với tôi: Ông này, tôi thấy anh này ăn nói giống như linh mục… Tôi bảo: Anh ấy đóng linh mục mà không ăn nói như linh mục thì sao được ông. Người tình báo mà nhập vai giỏi quá thành ra là vậy. Cho nên trong nghề tình báo, tôi nói vai trò của người lãnh đạo là chỉ trỏ, nhưng cái công của anh là chỉ sao cho trúng, còn làm giỏi tới đâu là do chính người tình báo”.

Nói tới đây, ông nhớ đến Phạm Ngọc Thảo: “Thành công của anh Thảo là đóng được vai người quốc gia, tham gia kháng chiến nhưng không cộng sản. Tôi nói với anh ấy thế này: Anh không giấu được quá trình kháng chiến của anh đâu. Dù có giấu được Diệm, Nhu, Thục, nhưng không giấu được người khác, nhất là CIA. Anh phải hiểu Ngô Đình Diệm. Nó không phải làm tay sai để lấy tiền, mà có đầu óc quốc gia, nó có lý tưởng của nó. Nó cần những người quốc gia không cộng sản. Anh phải giải nghĩa được cho Ngô Đình Thục là anh đi theo họ Ngô là như vậy chứ nói rằng anh là người trong đại gia đình công giáo hay nhà trí thức thì không vào được đâu. Anh làm thế nào thì làm nhưng kịch bản phải là như vậy.

Anh Thảo nghe theo, lại có nhiều sáng kiến. Anh Thảo đóng vai chống cộng đạt đến mức, anh ấy đã nói thẳng với anh em Diệm – Nhu rằng: Nếu chúng ta chống cộng như thế này thì chúng ta sẽ thua cộng sản. Chúng ta phái tỏ ra chúng ta văn minh hơn, nhân ái hơn, chứ bây giờ tổng thống thấy đấy: Có người đi tập kết, trong này công an đến hăm dọa vợ nó phải bỏ chồng, chúng ta làm cái việc mà chính Chúa cũng không cho phép, thế thì làm sao chúng ta chống cộng được ! Diệm – Nhu nể anh Thảo chuyện ấy lắm. Tôi bảo như thế là ăn rồi”.

Ông Mười Hương nói rằng, cũng như Phạm Xuân Ẩn, Phạm Ngọc Thảo là một người tình báo vĩ đại. Ông nói rất nhiều về ông Thảo, về sự hy sinh của ông Thảo, về vợ con ông Thảo… “Sử dụng anh Phạm Ngọc Thảo làm việc ấy, lúc đó chúng tôi phải xin ý kiến anh Lê Duẩn, vì anh Lê Duẩn có thẩm quyền cao nhất của Trung ương ở miền Nam. Anh Thảo là người rất có nguyên tắc. Anh đóng vai đạt đến mức nhiều người cho rằng anh là phản cách mạng. Cái nghề này là như thế đó !…”. Ông Mười Hương vừa nói vừa bật khóc nức nở.

Chúng tôi lặng đi. Không thể hỏi gì thêm. Những giọt nước mắt của ông nói lên tất cả. Ông đúng là người thầy của những nhà tình báo vĩ đại.

Kỳ 51: Phạm Xuân Ẩn dưới mắt một cựu dân biểu kiệm chủ báo Sài Gòn

Đăng Bởi Một Thế Giới – 11:23 27-06-2015

Ông Ngô Công Đức là dân biểu chế độ Sài Gòn từ năm 1967 đến 1971, đồng thời là chủ nhiệm kiêm chủ bút nhật báo Tin Sáng, ông là một trong những chính khách và chủ báo quen thân với ông Ẩn.

Có thể bạn quan tâm

>> Sát thủ 20 tuổi xả súng giết chết 13 người, bị thương 20 người khác tại Mỹ

>> Bài 2: Lừa dối khách hàng, TMV Kangnam liên kết với đối tác ảo ở Hàn Quốc

>> Ông Phó TGĐ “lĩnh lương gần 1 tỉ mỗi năm mà không kiếm được xu tài trợ nào” lên tiếng

Ngồi với chúng tôi trong quán cà phê Givral – nơi Phạm Xuân Ẩn thường ngồi đàm luận “trăm thứ chuyện trên đời” với các tướng tá và chính khách Sài Gòn, ông Ngô Công Đức nhớ lại những ấn tượng khó quên về ông Ẩn, từ chuyện bây giờ đến những chuyện hồi xưa.

 

 Ông Ngô Công Đức

“Tôi nghe chuyện các bạn Mỹ của ông Ẩn đề nghị ổng viết hồi ký, họ trả 2 triệu USD, nhưng dù bao nhiêu ổng cũng dứt khoát từ chối. Tôi hỏi vì sao vậy, ổng chỉ nói: Việc của tôi không bị đổ bể chẳng qua là nhờ may thôi, có gì đâu mà viết. Ổng toàn nói vậy. Nhưng tôi hiểu, biết bao nhiêu người đã cung cấp tài liệu cho ổng, bây giờ xong việc rồi mà đem kể những người ấy ra, tội họ chứ. Viết hồi ký thì phải kể ra, còn không kể ra thì lấy gì mà viết, ổng là con người mà cả cuộc đời sống vì lý tưởng, vì đất nuớc”. “Ông quen ông Ẩn từ lúc nào?”. “Từ giữa những năm 1960. Hồi đó, ổng thường ra đây. Ngoài chuyện chính trị, thời sự, ổng còn chửi thề như bắp rang à, không anh nào chửi thề lại ổng đâu nhé. Rồi chuyện chơi bời, chuyện đàn bà phụ nữ…, ổng nói sành không ai bằng. Sau này tôi thắc mắc về chuyện ăn chơi đó, ổng nói: Thì mình nói dóc vậy thôi, đọc sách đọc vở rồi phịa ra, có gì là khó. Quan hệ với các giới chức, toàn là những người sành ăn chơi, không biết những chuyện như thế làm sao hòa nhập được”.

Quán cà phê Givral ngày nay

“Hồi đó ông có nghĩ ông Ẩn có thể là người cộng sản không ?”. “Từ năm 1975 trở về trước tôi không hề nghĩ ổng là cộng sản. Một thời gian sau giải phóng tôi cũng không nghĩ như thế, vì tôi thấy vợ con ổng đi Mỹ. Sau đó, tôi có người bạn là nhà ngoại giao nói cho tôi biết ông Ẩn là người của mình. Khi vợ con ông Ẩn về, tôi mới thấy ông này nói đúng. Sau này có lần tôi với ông Ẩn đi Vũng Tàu, buổi tối vào khách sạn, thấy ổng rút cái thẻ đại tá quân đội ra, tôi hỏi: Anh là đại tá à! Ổng nói: Ờ, mấy ổng cấp vậy, chứ mình có bao giờ cầm súng ống gì đâu”. “Giới báo chí trước giải phóng đánh giá như thế nào về ông Ẩn ?”. “Dưới mắt họ, ổng là một ký giả nhà nghề được nể trọng”.

Ông Ngô Công Đức cho rằng ông Ẩn quan hệ rất rộng, giao tiếp với đủ các thành phần và có nhiều bạn bè. Hầu hết những người đó đến nay vẫn giữ lòng kính trọng đối với ông Ẩn. Ông Ngô Công Đức nói: “Giữa ông Ẩn với Nguyễn Cao Kỳ (Phó tổng thống chế độ Sài Gòn) cũng có mối quan hệ qua lại gần gũi. Sau giải phóng, khi biết Phạm Xuân Ẩn là tình báo cộng sản, Nguyễn Cao Kỳ ở Mỹ tức giận tuyên bố: Sẽ xin tí huyết thằng Ẩn! Nhưng sau này tôi biết ông ta lại có thái độ khác, tỏ ra nể phục Phạm Xuân Ẩn”.

Ông Ngô Công Đức lúc đó là một dân biểu đối lập. Ông bảo: “Năm 1969, tôi liên hệ với cách mạng từ bên Pháp, qua phái đoàn của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ở Hội nghị Paris”. Báo Tin sáng, tờ báo mà ông Ngô Công Đức khẳng định “không bao giờ có một câu chống cộng trên tất cả các số báo đã phát hành”, là tờ báo đối lập, chống chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Ông nói tiếp: “Năm 1971, tôi bị chính quyền Nguyễn Văn Thiệu bắt ở Trà Vinh. Do sự đấu tranh của các lực lượng yêu nước lúc đó, Nguyễn Văn Thiệu phải thả tôi ra. Tôi về hỏi ý kiến ông Ẩn. Ông Ẩn cho tôi biết: Họ không những muốn bỏ tù anh mà còn muốn hãm hại anh nữa đấy. Anh nên tìm cách trốn đi. Tôi biết ổng quen với các quan chức cấp cao trong cơ quan an ninh, trong trung ương tình báo của chính quyền Sài Gòn, nên ổng biết mọi chuyện. Nghe lời ổng, năm 1971 tôi vượt biên ra nước ngoài, đến năm 1975 giải phóng xong mới về nước. Năm 1972 tờ Tin Sáng cũng bị đóng cửa. “Ông Ẩn biết ông chống Mỹ, chống Thiệu, lại báo tin ông bị hãm hại, ông cũng không nghĩ ông Ẩn có dính dáng gì với cách mạng à ?”. “Không. Cái cách của ông Ẩn làm người ta chỉ nghĩ ổng là người bạn tốt, có cảm tình với cá nhân mình thôi”.

Ông Ngô Công Đức bảo giờ đây, thỉnh thoảng ông vẫn ngồi uống cà phê với ông Ẩn tại nhà hàng này. “Ổng là người có tấm lòng thật trong sáng, sống hết mình vì đất nước, chí tình chí nghĩa với bạn bè. Ngồi nói chuyện với nhau, mỗi khi đề cập đến nạn tham nhũng, ổng rất buồn. Nhưng không bao giờ ổng có cái nhìn khó chịu với thực tại và không bao giờ dùng lời lẽ đao to búa lớn”, ông Ngô Công Đức nói. Chia tay với chúng tôi rồi, ông còn gọi điện thoại lưu ý thêm: “Ông Ẩn không chỉ giỏi về tình báo mà có kiến thức rộng lắm. Về kinh tế ổng cũng có tầm nhìn rất chiến lược. Nếu ai cần hỏi, tôi tin ổng sẽ có nhiều đóng góp rất sắc sảo. Trong chuyện làm ăn của tôi, tôi cũng hỏi ý kiến ổng rất nhiều”. Ông Ngô Công Đức bây giờ là một doanh nhân, có lẽ vì vậy mà ông phát hiện thêm một khía cạnh mới trong tài năng của Phạm Xuân Ẩn. Khía cạnh này chúng tôi cũng biết rõ…

Kỳ cuối: “Tôi thanh thản ra đi được rồi”

Phạm Xuân Ẩn cùng Tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại TP.HCM (thứ hai và thứ ba từ phải qua) Emi Lynn Yamauchi thăm tàu hải quân Mỹ USS Vandegrift tháng 9-2003

TT – Lần đầu tiên tôi gặp Phạm Xuân Ẩn là vào tháng 7-2001 tại một nhà hàng hải sản trên đường Sương Nguyệt Anh (TP.HCM). Hôm đó bạn tôi là giáo sư James Reckner, giám đốc Trung tâm Việt Nam tại Đại học Texas, mời tôi dùng bữa tối.

Phạm Xuân Ẩn ngồi đối diện tôi. Tôi giới thiệu mình là giáo sư dạy Đại học California – Davis, ông Ẩn nghe tôi tự giới thiệu như vậy thì mắt bỗng sáng lên: “Ông từ California đến? Tôi đã từng có thời sống ở đó và học đại học ở Costa Mesa đấy. Đó là thời kỳ hạnh phúc nhất trong cuộc đời tôi”.

Sắc sảo đến ngày cuối cùng

Hai năm tiếp theo cho đến khi Phạm Xuân Ẩn ốm nặng, ông và tôi thường gặp nhau tại tiệm cà phê Givral. Năm 2003, sau năm thập kỷ hút thuốc lá, Phạm Xuân Ẩn mắc bệnh phổi rất nặng. Phạm Xuân Ẩn nói: “Tôi đã hút thuốc lá 52 năm rồi. Giờ đây tôi đang phải trả giá cho điều đó”. Một lần, tôi đến TP.HCM vào ngày Phạm Xuân Ẩn phải đi viện. Tôi điện thoại cho Phạm Xuân Ẩn, ông cũng xác nhận kết quả chẩn đoán là rất xấu. Vài tháng sau tôi trở lại TP.HCM, nhưng vì ông Ẩn còn yếu nên tôi đề nghị được gặp ông tại nhà riêng của ông. Đó là ngôi nhà ở số 214 Lý Chính Thắng, trước kia là nhà riêng của một nhà ngoại giao Anh. Chúng tôi vừa ngồi uống trà, vừa trò chuyện trong nhiều giờ.

Khi tôi hỏi liệu tôi có thể viết hồi ký cho ông được không, Phạm Xuân Ẩn trả lời thẳng thừng: “Không!”. Tuy vậy, cuộc trao đổi của chúng tôi vẫn tiếp tục. Tôi đưa ra càng nhiều câu hỏi về những việc ông đã làm trong nghề tình báo, Phạm Xuân Ẩn kể cho tôi nghe càng nhiều. Khi đó, tôi luôn tay ghi chép và bắt đầu ghi âm những cuộc nói chuyện của chúng tôi. Một lần nữa, Phạm Xuân Ẩn tránh được đi gặp Diêm Vương. Ông xuất viện trở về nhà với hai lá phổi chỉ còn làm việc được 35% công suất. Trông ông ốm yếu khủng khiếp. Tuy nhiên, đầu óc, trí nhớ, và cả khiếu hài hước trong ông vẫn sắc sảo như thường.

Sau này tôi mới biết Phạm Xuân Ẩn chưa dứt ra hoàn toàn khỏi nghề tình báo, ông vẫn còn là cố vấn cho Tổng cục Tình báo ở Hà Nội mãi đến sáu tháng trước khi ông qua đời mới thôi. Phạm Xuân Ẩn nói: “Tôi có nhiệm vụ đọc những tài liệu này, rồi đưa ra những phân tích của mình. Mọi người biết rõ tôi sẽ đưa ra những đánh giá chân thực nhất”.

Đề cập đến những năm tháng hoạt động tình báo, Phạm Xuân Ẩn nói: “Người ta có thể nói gì về cuộc sống khi mà phải luôn luôn chuẩn bị sẵn sàng hi sinh”. Điều làm cho câu chuyện về cuộc đời Phạm Xuân Ẩn trở nên không thể tin được đó là việc rõ ràng ông rất thích sống trong vỏ bọc của mình, thích làm một phóng viên để điều mơ ước về tự do báo chí trở thành hiện thực trong cách nhìn của ông về cách mạng.

Trong suốt hơn hai mươi năm, Phạm Xuân Ẩn sống trong vỏ bọc, nhưng vẫn hi vọng điều mà ông hằng mơ ước sẽ trở thành sự thật. Đó là mơ ước được làm phóng viên cho một tờ báo của nước Việt Nam thống nhất.

Sau nhiều lần thuyết phục Phạm Xuân Ẩn để tôi viết hồi ký về ông không thành, tôi bèn van nài, hi vọng được ông chấp nhận với tôi một điều rằng cuốn hồi ký về cuộc đời ông phải để cho một nhà sử học như tôi viết ra, chứ không chỉ các nhà báo Việt Nam viết về ông vì có thể ở VN vẫn còn áp dụng kiểm duyệt. Ông từ chối.

Tôi bèn lật ngửa “con bài” cuối cùng của mình bằng cách nói rằng sẽ là thích hợp nếu một giáo sư đại học ở California – một bang của nước Mỹ mà tại đây, ông Ẩn từng có đầy ký ức đẹp đẽ – viết hồi ký về cuộc đời Phạm Xuân Ẩn. Phạm Xuân Ẩn nhìn thẳng vào mắt tôi rồi nói: “OK”. Ông hứa sẽ hợp tác với tôi.

Một phần của quá trình hòa giải

Tôi chưa bao giờ nghe Phạm Xuân Ẩn nói điệp viên là một cái gì khác ngoài nhiệm vụ được giao, mà nhiệm vụ ấy đã kết thúc khi đất nước thống nhất. Trước khi Phạm Xuân Ẩn qua đời, trên các bức tường trong nhà ông không hề treo huân chương, bằng khen, giấy chứng nhận danh hiệu anh hùng. Ông để tất cả những thứ đó trong ngăn kéo hoặc trên tường phòng ngủ ở tầng hai.

Tài sản dễ nhìn thấy nhất của Phạm Xuân Ẩn là sách, chất đầy trên giá sách, trên mấy cái bàn ở gần đó và một đống tạp chí Time mà ông nhận được hằng tuần. Những người đến thăm, nếu biết sở thích của ông, thì mang cho ông những cuốn sách mới. Phạm Xuân Ẩn là người đọc đủ mọi thứ sách. Ai có thời gian để lắng nghe ông sẽ học được rất nhiều điều. Trong thời kỳ 1975-1986, khi Phạm Xuân Ẩn còn bị theo dõi, ông đã dành nhiều thời gian để đọc sách cùng với các con mình. Ông luôn cố gắng truyền đạt cho các con ông những giá trị cơ bản mà ông đã từng học được từ rất nhiều người bạn của mình. “Tôi muốn các cháu biết tôn trọng nhân văn và nhận ra được rằng sự hiểu biết, kiến thức quí giá hơn tiền bạc”, ông nói.

Phạm Xuân Ẩn vẫn là người có cảm tình với Mỹ trong suốt cả cuộc đời mình. Ông đã rất vui khi chứng kiến một chương mới mở ra trong quan hệ giữa VN và Mỹ. Theo lời mời của đại sứ Hoa Kỳ tại VN Raymond Burghardt và tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại TP.HCM Emi Lynn Yamauchi, Phạm Xuân Ẩn lên thăm tàu hải quân Mỹ USS Vandegrift hồi tháng 9-2003. Cùng thăm tàu có các quan chức cao cấp khác nhân dịp lần đầu tiên, một tàu hải quân Mỹ cập cảng VN kể từ khi chiến tranh kết thúc năm 1975. Kể lại chuyện này cho tôi nghe, Phạm Xuân Ẩn nói: “Giờ thì tôi có thể thanh thản ra đi được rồi. Tôi đã phục vụ đất nước tôi, nhân dân tôi, và sự thống nhất Tổ quốc”.

Phạm Xuân Ẩn đã được chứng kiến một chương mới mở ra trong quan hệ giữa VN và Mỹ. Trên thực tế, ông đã trở thành một phần của quá trình hòa giải rộng lớn hơn giữa hai kẻ thù xưa. Đại sứ Raymond Burghardt khi sắp kết thúc nhiệm kỳ công tác tại VN đã đến nhà Phạm Xuân Ẩn để chia tay. Đại sứ Burghardt nói với tôi: “Câu chuyện và cuộc đời của Phạm Xuân Ẩn thật không thể nào tin được, nhưng vượt lên trên tất cả những điều đó, Phạm Xuân Ẩn là một biểu tượng quan trọng của tình hữu nghị mới giữa hai nước chúng ta”. Vài tuần sau, tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại TP.HCM Emi Lynn Yamauchi đã ăn tết VN với gia đình Phạm Xuân Ẩn.

Tôi vừa hoàn thành bản thảo Điệp viên hoàn hảo thì Phạm Xuân Ẩn qua đời vì bệnh phổi ngày 20-9-2006, chỉ tám ngày sau sinh nhật lần thứ 79 của ông. Sau khi Phạm Xuân Ẩn qua đời, linh cữu của ông được quàn hai ngày cho công chúng đến viếng. Ông Tư Cang đã viết một bài thơ để tưởng nhớ Phạm Xuân Ẩn:

“Đời người tình báo thế là xong
Tình dân, nghĩa Đảng, nợ non sông
Làm trai trong suốt thời ly loạn
Anh thật xứng danh một anh hùng”.

LARRY BERMAN
(Nguyễn Đại Phượng dịch)

 

Bạn đang tham khảo bài viết của Công ty Luật Gia Thái. Nếu có bất cứ thắc mắc cần được hỗ trợ giải đáp, tư vấn pháp luật trực tuyến từ các Luật sư, vui lòng liên hệ ngay với chúng tôi qua Hotline: 0983.232.416 để được tư vấn một cách chính xác nhất!

CÔNG TY LUẬT GIA THÁI

NIỀM TIN VÀ UY TÍN

Trụ sở chính: Số 1/377 đường Giải Phóng, phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân, Hà Nội

Website Công ty – hỏi đáp pháp luật miễn phí tại: https://luatgiathai.com

Chịu trách nhiệm: Luật sư – Luật sư Vũ Thị Thảo – Giám đốc điều hành Giấy phép số: 01021029 /TP/ĐKHĐ Sở Tư pháp TP Hà Nội cấp

Hy vọng rằng bài viết tham khảo của Công ty sẽ giúp bạn có cách nhìn phù hợp và lựa chọn được phương án thích hợp để giải quyết những vướng mắc của bạn. Nội dung bài viết trên chỉ được coi là tài liệu tham khảo. Rất mong Quý khách hàng, người truy cập tuyệt đối không được coi là ý kiến pháp lý chính thức cuối cùng của Luật sư.

LUẬT GIA THÁI – LUẬT SƯ CHO MỌI NHÀ!

TUYÊN BỐ QUYỀN SỞ HỮU ĐỐI VỚI CÁC NỘI DUNG TRÊN WEBSITE:

Webiste https://luatgiathai.com thuộc sở hữu và được hoạt động dưới sự quản lý của Công ty Luật TNHH Gia Thái. Webiste có dẫn chiếu nhiều email hỏi đáp, tư vấn pháp lý cá nhân kèm nhiều thông tin cá nhân của khách hàng. Vì vậy, vui lòng không phát hành lại, tái bản thông tin trên website dưới mọi hình thức nếu chưa có được sự đồng ý của Luật Gia Thái bằng văn bản!

 

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *